Bani là phiên âm tiếng Ả Rập (Arab - Arabic). Nghĩa là “đạo”, nhưng thường dùng với nghĩa tín đồ thờ phượng Allah (Aluah), Đấng Tối Cao, Duy Nhất và Muhammad (Muhamat) là vị Thiên sứ (Nabi-Rasul) cuối cùng được Allah mặc khải Thiên kinh Quran (Koran). Theo thuật ngữ thì từ Bani có một số ngữ nghĩa như: - Bani: trong tiếng Ả Rập dùng để chỉ tín đồ theo đạo thờ thượng đế Allah. - Theo R.P Durrand (1903), tên gọi Bani là phiên âm theo từ gốc Ả Rập “Beni”, có nghĩa là những “đứa con”. - Theo E. Aymonier & A. Cabaton (1906), thì Bani “بَانِي hay بني” tiếng Ả Rập nghĩa là “con cháu”, nghĩa theo tôn giáo là “Hồi giáo”. Ngoài ra tự điển còn định nghĩa: + Bani Adam: Islam (Hồi giáo), + Bani Nabi: Islam (Hồi giáo), + Bani Ibrahim: Islam (Hồi giáo), + Bani Muhhamad: Hồi giáo + Banī Java: Hồi giáo của người Mã Lai. + Chăm Bani, Bani Chăm: Người Chăm theo đạo (Awal - Islam - Hồi giáo), |
Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty – Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga. Năm 1192, vua Po Krung Garay (Jaya Indravarman IV) bị tử trận tại Traik (phía bắc Vijaya-Champa). |
Từ khi Champa độc lập vào năm 192 thế kỷ II, thời kỳ vàng son nhất của nền văn minh Ấn Ðộ giáo cho đến thời kỳ suy tàn hoàn toàn vào năm 1471 thế kỷ XV, thì Champa rất sùng bái tam thần giáo của Hindu giáo như: Brahma, Vishnu và Shiva. Tùy theo từng thời kỳ và từng khu vực mà sự sùng bái các vị thần này khác nhau. Nhưng nói chung Champa vùng Panduranga thì thần Shiva được sùng bái hơn so với hai vị thần Brahma và Vishnu. Ða số các đền tháp nằm rải rác ở miền trung Việt Nam là những nơi thờ phượng thần Shiva. Khi Nam thần Shiva được sùng bái nhất ở Champa thì kéo theo phu nhân của Shiva là Bhagavati (Parvati) cũng được sùng bái và tôn thờ. Khi Champa xây nhiều đền tháp cho nam thần Shiva thì cũng xây đền tháp cho nữ thần Bhagavati (Parvati). Bimong Po Ina Nagar (Ea Terang - Nha Trang - Khánh Hòa) là cụm đền tháp có thờ nữ thần Bhagavati. Đây không phải là Tháp dành riêng cho nữ thần Bhagavati (Parvati) mà còn thờ ba vị Nam thần khác là: Shandhaka, Gansha Sri Vinayaka và Sri Malada-Kuthara. |
Trong thời gian nghiên cứu sinh tại Singapore và Malaysia, PhD.Putra Podam (Văn Ngọc Sáng, Muhammad Budi, Santichai, Yutthana,...) đã tham gia báo cáo tại nhiều hội thảo khoa học trong và ngoài nước. Đăng gần 50 bài viết trên Tạp chí Quốc tế (International Journal) ở nhiều nước khác nhau, như: America, Canada, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thailan, Vietnam, Jordan, UAE,...với nhiều nhà xuất bản như: American Scientific Publisher, Canada Center of Science and Education Publisher, Jurnal Pendidikan Nusantara Publisher, Springer Singapore Publisher, Science Publishing Corporation (SPC) Publisher. Jordan Amman Publisher, Information international interdisciplinary journal: SCOPUS, SCOPUS Indexed Journal, Published by Sains Humanika. San Francisco,... |
Chiến tranh Đế quốc Khmer - Champa là một loạt các cuộc xung đột kéo dài từ giữa thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ thứ 13. Cuộc đụng độ đầu tiên vào năm 950 khi quân đội Khmer cướp phá tiểu quốc Kauthara của Champa. Căng thẳng giữa Đế quốc Khmer và Champa lên đến đỉnh điểm vào giữa thế kỷ thứ 12 khi cả hai đã triển khai quân đội dã chiến và tiến hành các cuộc chiến tranh tàn khốc. Đế quốc Khmer do dưới áp lực ngày càng gia tăng từ Champa đã rút lui khỏi việc chiếm đóng Champa vào năm 1220 và kể từ đây cuộc xung đột giữa đế quốc Khmer và vương quốc Champa mới chính thức kết thúc. |
Jaya Indravarman III (1139-1145). Vị vua Champa (Raja-di-raja), theo tôn giáo Hinduism, sinh ra tại Vijaya- Champa và qua đời năm 1145 tại Vijaya-Champa. Tên Jaya Indravarman, hoàng tử Dav Veni Laskmi Sinyang. Vua cha Harivarman V (cha nuôi). Vua Harivarman V là vị vua trước không có người thừa kế nên thoái vị vào năm 1129. Con nuôi của nhà vua tên Po Sulika được phong làm Thái tử Champa vào năm 1133, hiệu Jaya Indravarman III. Theo các bia ký tại Đồng Dương và Po Ina Nagar, Jaya Indravarman III sinh năm 1106, được nhận vào hoàng tộc năm 1129 tước hiệu Devaraja, được phong vương (Yuvaraja) năm 1133. |
Vua Champa, Harivarman IV (1074-1080), tên thật là Prince Thang (Hoàng tử Thang), tên tiếng Phạn Vishnumurti, Madhavamurti, Devatamurti. Tên hiệu: Yang Po Ku Vijaya Sri Harivarmmadeva. Vị vua Champa (Raja-di-raja), theo tôn giáo Hinduism. Ông sinh ra tại Quảng Nam (Champa) và mất 1081 tại Indrapura. Cha ông là một quý tộc thuộc họ Dừa (các bộ tộc phía bắc), còn mẹ ông là thành viên của họ Cau (các bộ lạc phía nam) mà dân chúng Panduranga cho là dòng vương tôn chân truyền của vương quốc Champa. Hoàng tử Thang rất tự hào về nguồn gốc xuất thân của mình, vì luôn tự nhận là sự kết hợp của hai bộ tộc lớn nhất của Champa: cha là Pralaysvara Dharmaraja, dòng Narikelavansa thuộc đẳng cấp Ksatriya, bộ tộc Dừa ở Amaravati; mẹ thuộc dòng Kramukavansa, đẳng cấp Brahman, bộ tộc Cau ở Panduranga. |
Năm 946, vua Khmer là Rajendravarman II (944-968) cùng binh lính từ Angkor đánh thẳng vào Kauthara-Champa (Aia Terang-Nha Trang), cướp nhiều châu báu trong đó có tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng (Bhagavati là nữ thần Yang Pu Nagara, là vị thần bảo vệ xứ sở, biểu tượng uy quyền của Champa). Sau đó, lực lượng Champa vùng dậy phản công, đánh bại và đẩy lùi đoàn quân Khmer. Một năm sau, vua Indravarman III tìm cách tái lập lại mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa. |
Sơ yếu lý lịch của Văn Ngọc Sáng (Putra Podam) Họ và tên: Văn Ngọc Sáng |
Chế Mân (Jaya Simhavarman III), trị vì (1285-1307), là vị vua Champa (Raja-di-raja) theo tôn giáo Islam, sắc tộc: Raday (Rhade, Jarai), tên R'cam Mal (hoàng tử Harijit), Raja Kembayat. Sinh ra tại Vijaya-Champa và qua đời tại Vijaya-Champa. Các vợ gồm: Bhaskaradevi (công chúa người Islam tại Java-Indonesia), Tapasi (công chúa tiểu vương Yavadvipa người Islam tại Mã Lai), Paramecvari (Huyền Trân, công chúa Đại Việt). Vua cha là Indravarman V và người mẹ Gaurendraksmi. Năm 1285, khi vua cha Indravarman V mất, hoàng tử Harijit lên ngôi, hiệu Jaya Simhavarman III (Chế Mân), đặt kinh đô tại Vijaya. Theo cách gọi của tộc người Rhade và Jarai tại vùng Vijaya-Degar là R'čam Mal (R'cam Mal là hoàng tử Harijit), con trai của vua Indravarman V và hoàng hậu Gaurendraksmi, lên ngôi lấy vương hiệu là Jaya Simhavarman III, mà tài liệu Trung Quốc gọi là Pou Ti, Raja Kembayat, đức vua Chế Mân, trong quyển "Bidasari and The Djinn" của Ninot Aziz. Là vị vua thứ 12 của Triều đại thứ 11 vào thế kỷ 13. Trị vì từ năm 1285-1307. Kế nhiệm từ vua cha là quốc vương Champa, Indravarman V, đã từng lãnh đạo chống quân Mông Cổ, mà nhà thương thuyền Âu Châu là Marco Polo, nhân dịp ghé thăm Champa vào năm 1288 có nhắc đến. |