#

Cái chết của vua Po Rome, nhiều tài liệu đã ghi chép không hợp lý. Theo truyền miệng, vua Po Rome bị bắt trong trận chiến, ngài bị nhốt vào rọ, bỏ đói bỏ khát trên đường đưa về Huế và ngài đã tự tử. Theo Dohamide-Dorohiem, E. Aymonier, Quyến, … vua Po Rome thua trận và bị bắt nhốt trong cũi sắt. Khi ông chết đi, thi hài được đưa vào thánh đường làm thủ tục Hồi giáo (Chăm Awal) trước, và sau đó Chăm Ahier đưa đi hỏa táng theo tập tục. Theo G. Moussay và Po Dharma, khẳng định tờ báo viết bằng chữ Bồ Đào Nha của nhà truyền giáo gốc người Bồ Đào Nha đến Việt Nam viết, thì vua Po Rome bị bắt đưa ra Phú Xuân. Điều đặt ra, chắc chắn triều đình Huế sẽ tử hình thì còn đâu thi hài Po Rome để đưa vào Thánh đường (Magik) hay hỏa táng theo tục Hindu. Có chăng thần dân Champa chỉ thực hiện các thủ tục theo tôn giáo cho ngài mà không có thi hài. Theo G. Moussay và Po Dharma, sau khi vua Po Rome từ trần thì Hoàng gia Champa đã tổ chức lễ trong Thánh đường (Masjid / Magik) hoàn tất mọi thủ tục theo Islam (Hồi giáo). Sau đó, Po Rome cũng được hoàn thành một nghi thức khác là hỏa táng dành cho vị vua mà tín đồ Ahier (Balamon thờ Allah) sùng bái và thờ phượng. Đồng thời tín đồ Ahier cũng đưa tượng vua Po Rome dưới hình thể Mukha Linga (thần Shiva) vào thờ bên trong tháp, thay vì tháp này trước đó xây để thờ thần Shiva (Balamon) của Ấn giáo.

#

Theo nhiều bậc cao niên tại xã Phan Hòa Jaoh yaw (kể chuyện xưa), trong thời gian kalin (giặc Yuen), để bảo toàn lực lượng Po Patao At phải rút quân lên núi cùng các tướng lĩnh,…sau thời gian gặp nạn hạn hán kéo dài, bắp trồng bị khô hết không còn gì để ăn,…Po Patao At cùng đoàn người phải xuống núi và di chuyển về phía Nam vùng Panduranga, khi đến vùng đất đai trù phú, phong thủy tốt, đồng ruộng trù phú bên cạnh cát trắng và dừng chân đóng trại. Ngài ra lệnh cho quan quân và thần dân lập nghiệp để khai khẩn ruộng vườn và tạo dựng thành palei Panet (Bình Thắng). Người dân xã Phan Hòa ngày nay chính là hậu duệ của đoàn quân Po Patao At.

#

​Po Patao At (1541-1567 hay1553-1579), vị vua theo agama Islam (Hồi giáo). Theo biên niên sử Champa Sakkarai dak rai patao thì Po Patao At là cháu của Po Kunarai (1541-1553), lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Thỏ, trị vì 27 năm. Ngài có một vương hậu Champa tên Bia Kati và một hoàng tử tên Cei Sak Malaow. Đầu tiên, ngài xây dinh riêng ở ngoài Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang). Theo Hán Việt thì Po At có tên là Bà Ất (1553-1579). Po Patao At là vị vua cuối cùng của triều đại Po Mahosarak, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử Champa nên những tài liệu chi tiết liên quan đến khoa học lịch sử của ngài ở trong cộng đồng Chăm rất ít người còn lưu trữ, chỉ còn lưu lại vài truyền thuyết.

#

Vua Po Rome (Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome (trị vì: 1627-1651), là một vị vua Panduranga-Champa theo Hồi giáo (Islam), kế thừa từ triều đại Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha) cũng là một vị vua Panduranga-Champa Islam hùng mạnh. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao) thì vua Po Rome lên ngôi năm Thỏ và thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Biuh Bal Pangdurang (Thành Bal Pangdurang). Po Rome là con rể của vua Po Klong Mah Nai (nghĩa là Po Klong Mah Nai đã truyền ngôi vua cho Po Rome). Cuộc đời và sự nghiệp của vua Po Rome đã được lịch sử ghi lại có hai dòng khác nhau, một là theo truyền thuyết, theo biên niên sử Champa Sakkarai dak rai patao tại tiểu vương quốc Panduranga-Champa và hai theo lịch sử và cây gia phả của Po Rome tại Kalantan (Malaysia).

#

Po Klong Mah Nai, hay còn gọi là Po Mah Taha với tước hiệu Hồi giáo Maha Taha, trị vì Panduranga từ 1622 đến 1627, là một trong những nhân vật trung tâm trong lịch sử Champa thế kỷ 17. Nhiều nguồn tư liệu Cham và Pháp xếp ông vào nhóm các quân vương theo Hồi giáo, phản ánh vai trò quan trọng của Islam trong triều đình Panduranga. Sinh tại Panduranga-Champa và qua đời tại Bal Canar (Parik-Panduranga), nay thuộc Phan Rí-Bình Thuận. Po Mah Taha thuộc sắc tộc Churu và Raglai, và không có quan hệ huyết thống với vương triều Po Klong Halau, dòng vua có ảnh hưởng mạnh từ nửa sau thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII (Aymonier, 1890). Trong biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), ghi nhận ông lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Mão, trị vì tổng cộng sáu năm, với kinh đô đặt tại Bal Canar. Các thư tịch Hán Nôm của triều Nguyễn phiên âm tên ông thành Bà Khắc-Lượng Như-Lai, là dạng Hán hóa của danh xưng Champa.

#

​Po Rome vua Champa (Chiêm Thành) trị vì từ năm 1627 đến năm 1651, là con rể của Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha). Po Rome là vị vua Hồi giáo (Islam), ngài đã cưới nhiều người vợ như: Bia Sucih (Bia Than Cih), Bia Than Can, Bia Puteri Siti, Bia Ut (Công nữ Ngọc Khoa), Bia Laku Makam, Bia Hatri, Bia Sumut ... và một số thứ phi khác. Khi vua Po Rome mất, thì Champa làm xong thủ tục cho ngài theo hình thức Islam trong Masjid (Magik), sau đó thần dân Cham (Cham Ahier) kính trọng và thờ phượng tùy theo tín đồ Ahier (Hindu thờ Allah). Nếu thờ theo Yang thì Ngài có tên là Yang Po Rome (thần Po Rome). Nếu thờ theo Cei thì Ngài có tên là Cei Asit. Nếu thờ theo Atuw (Hồi Giáo) thì Ngài có tên là Cahya. Nếu thờ theo Yang Baruw (Hồi Giáo) thì Ngài có tên là Po Gahluw. Po Rome là một vị vua anh minh, tài ba của đất nước, hùng thiên vang mãi ngàn đời với những chiến công lẫy lừng mà vua Po Rome đã viết vào lịch sử.

#

Cuộc đời và sự nghiệp của Po Rome là một câu chuyện vừa bi, vừa tráng cũng vừa hùng. Tuy nhiên, dù như thế nào thì vua Po Rome là một vị vua hết lòng vì dân vì nước. Đặc biệt là vị vua được thần dân Champa tôn kính sau khi tử trận. Nhưng cái chết của vua Po Rome, nhiều tài liệu đã ghi chép không hợp lý. Theo truyền miệng, vua Po Rome bị bắt trong trận chiến, ngài bị nhốt vào rọ, bỏ đói bỏ khát trên đường đưa về Huế và ngài đã tự tử. Theo Dohamide-Dorohiem, E. Aymonier, Quyến, … vua Po Rome thua trận và bị bắt nhốt trong cũi sắt. Khi ông chết đi, thi hài được đưa vào thánh đường làm thủ tục Hồi giáo (Chăm Awal) trước, và sau đó Chăm Ahier đưa đi hỏa táng theo tập tục. Theo G. Moussay và Po Dharma, khẳng định tờ báo viết bằng chữ Bồ Đào Nha của nhà truyền giáo gốc người Bồ Đào Nha đến Việt Nam viết, thì vua Po Rome bị bắt đưa ra Phú Xuân. Điều đặt ra, chắc chắn triều đình Huế sẽ tử hình thì còn đâu thi hài Po Rome để đưa vào Thánh đường (Magik) hay hỏa táng theo tục Hindu. Có chăng thần dân Champa chỉ thực hiện các thủ tục theo tôn giáo cho ngài mà không có thi hài.

#

Từ nữa đầu thế kỷ XX, các nhà nhân chủng và khảo cổ học đã nhận ra người Thượng là đại điện của một nền văn minh cổ xưa đã biến mất. Kern và Cabaton cho rằng miền Nam bán đảo Đông Dương - trải dài từ Ấn Độ tới Trung Hoa, chớ không phải chỉ ba nước Việ̣t Nam, Lào, và Cambodia như nhiều người Việt lầm tưởng - là nơi sinh của giống người Nam Đảo, từ đó họ lan tỏa ra khắp các đảo xa và hai bờ Thái Bình Dương.

#

Hằng năm, cộng đồng Cham Ahier (Cham thờ Po Allah còn ảnh hưởng tín ngưỡng Hindu bản địa) vẫn duy trì nhiều nghi lễ truyền thống tại đền Po Klong Mah Nai, nơi tôn kính Po Klong Mah Nai và Hoàng hậu Bia Som cùng các Thứ Phi người Cham. Tuy nhiên, thông tin do Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận công bố rằng Po Klong Mah Nai là vị vua cuối cùng của Champa và các bảo vật của ông hiện được lưu giữ tại nhà bà Nguyễn Thị Thềm được cho là hậu duệ và “công chúa cuối cùng” của người Cham là không chính xác. Po Klong Mah Nai trị vì giai đoạn 1622-1627, trong khi bà Nguyễn Thị Thềm sinh năm 1911 và mất năm 1995, cách nhau gần ba thế kỷ. Bà Nguyễn Thị Thềm có thể thuộc hậu duệ các quan lại của Thuận Thành trấn do triều Nguyễn bổ nhiệm đầu thế kỷ XIX, không liên hệ huyết thống với vương tộc Churu hay Cham Islam của Po Klong Mah Nai và Po Rome. Po Klong Mah Nai trị vì giai đoạn 1622-1627, trong khi bà Nguyễn Thị Thềm sinh năm 1911 và mất năm 1995, cách nhau gần ba thế kỷ. Bà Thềm có thể thuộc hậu duệ các thủ lĩnh Thuận Thành trấn do triều Nguyễn bổ nhiệm cuối thế kỷ XVIII- đầu XIX, không liên hệ huyết thống với vương tộc Churu-Cham Islam của Po Klong Mah Nai và Po Rome.

#

Kinh sách Bani của người Chăm Bani (Chăm có đạo) là bản trích có chọn lọc trong Thiên kinh Quran (Koran), là Kinh sách viết bằng chữ Ả Rập (Arabic) và đọc theo tiếng Ả Rập (Arabic). Do đó, giáo sĩ (Acar) đọc Kinh sách Bani hay Thiên kinh Koran thường không hiểu nghĩa. Thậm chí một số Acar mới nhập đạo thường đọc Kinh sách Bani (Thiên kinh Koran) bằng bằng chữ Latin phiên âm tiếng Việt, do đó, Kinh sách Bani (Thiên kinh Koran) dù cùng một Surak hay cùng một chương nhưng các giáo sĩ (Acar) đọc khác nhau, thường dư hay thiếu chữ.