#

Năm 980, vua Lê Ðại Hành (Lê Hoàn) lên ngôi Hoàng đế nước Đại Cồ Việt. Kể từ đó, mối bang giao giữa Champa và Ðại Cồ Việt trở thành mối quan hệ giữa hai đối tượng thù địch. Đầu năm 982, vua Đại Cồ Việt là Lê Hoàn (Lê Đại Hành), dẫn đại quân tiến đánh vào Indrapura. Đây là cuộc Nam chinh đầu tiên của người Việt tấn công vào đất Champa. Vua Champa là Paramesvaravarman I tử trận ngay tại cửa thành, chấm dứt triều đại Indrapura. Quân xâm lược cướp phá một thành phố ở Bắc Champa, bắt cóc hàng trăm nhạc công, vũ công trong hậu cung, cướp bóc nhiều vàng, bạc, các đồ vật quý giá, bắt hàng ngàn tù binh, trong đó có một nhà sư Ấn Độ tên Thiền Trước Tăng (Bhiksu). Lãnh thổ Bắc Champa bị chiếm đóng từ 982 đến 983.

#

Theo ý kiến riêng của Ts.Putra Podam, cuộc khởi nghĩa của nhân vật anh hùng lịch sử Champa, Katip Sumat chống triều đình Huế là thể hiện tinh thần dân tộc bất khuất, cao cả trước chứng kiến mãnh đất tổ tiên (Champa) bị quân xâm lược chiếm đóng (triều đình Huế). Katip Sumat, mặc dù không phải dân tộc Champa sống trên mãnh đất Panduranga (Champa), mà Katip Sumat là dân tộc Champa đã từng sống tị nạn trên mãnh đất Cao Miên (Kampuchea). Sao khi chứng kiến Champa bị tiêu diệt vào năm 1832, ông dám đứng ra tổ chức và vận động nhân dân từ Cao Miên đến Panduranga để chống triều đình Huế, trong đó có nhiều nhân vật quan trọng đã từng lãnh đạo vương triều Panduranga (Champa) tham gia. Theo Ts.Putra Podam, lãnh tụ Katip Sumat lần đầu tiên đã áp dụng chủ thuyết Thánh chiến Hồi giáo (Jihad) tại Đông Dương trong cuộc đấu tranh của nhân dân Champa chống triều đình Huế là cách để kêu gọi các thành viên Hồi giáo tại Makkah (Kelantan), Melaka, Johor, Kedah, Kampuchea và Thái Lan, … tham gia phong trào theo tinh thần Hồi giáo.

#

Năm 1471, chiến thắng thành Vijaya (Đồ Bàn) của vua Lê Thánh Tông (Đại Việt) là hồi chuông báo động cho sự suy thoái của thời hậu Lê, kéo theo sự phân tranh giữa chúa Trịnh ở miền bắc và chúa Nguyễn ở miến nam. Năm 1569, Nguyễn Hoàng quyết định hình thành một triều đại riêng trên lãnh thổ Champa bị chiếm đóng. Vì không đủ tiềm lực tiến quân ra bắc chống chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng chỉ còn cách mở cuộc Nam Tiến về phía nam trên lãnh thổ Champa. Năm 1611, nhà Nguyễn xua quân xâm chiếm Phú Yên và năm 1653 đặt nền đô hộ trên tiểu vương quốc Kauthara (Khánh Hòa). Năm 1692, nhà Nguyễn tấn công Panduranga-Champa, thay đổi danh xưng “Panduranga” thành “Trấn Thuận Thành” và thành lập phủ Bình Thuận đầu tiên trên lãnh thổ của vương quốc này, tập trung những cư dân người Kinh sinh sống ở Champa, cư dân này là công dân của triều đình Huế.

#

Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty - Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga. Hậu duệ Ngài Po Krung Garai là R'cam Mal, theo cách gọi của tộc người Rhade và Jarai tại vùng Vijaya- Degar để gọi hoàng tử Harijit, con của hoàng hậu Gaurendraksmi, lên ngôi lấy vương hiệu là Jaya Simhavarman III, mà tài liệu Trung Quốc gọi là Pou Ti, tức Raja Kembayat (đức vua Chế Mân) vua Islam (Hồi giáo) trong quyển "Bidasari and The Djinn" của Ninot Aziz, là vị vua thứ 12 của triều đại thứ 11 vào thế kỷ 13, đã cho xây dựng Tháp Po Klong Garai tại Phan Rang (Panduranga) vào cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14.

#

Kauthara (chữ Phạn: कौठर, Kauthar) là một địa khu Champa phân bố trên một không gian từ Phú Yên (Aia Ru) trải dài cuối cùng đến vịnh Cam Ranh. Từ “Kauṭharā” trong Hindu giáo thường sử dụng để chỉ các địa điểm linh thiêng. Ở vương quốc Champa địa điểm linh thiêng chính là ngôi đền Po Ina Nagar (Bimong Po Ina Nagar), nơi được tôn vinh là trung tâm tôn giáo của Champa thời vương quốc. Sau khi Champa bị đất Phú Yên (Aia Ru) thuộc tiểu quốc Hoa Anh (1471 - 1611) dưới bàn tay của Chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1611, tức Nguyễn Thái Tổ, Chúa Tiên là chúa Nguyễn, ông đầu tiên đặt nền móng cho triều đại nhà Nguyễn (1558-1945). Nhà Nguyễn chưa chịu dừng chân tại đất Phú Yên (Aia Ru), mà tiếp tục cầm gươm đi mở mang bờ cõi tiến về phía Nam (tức cầm gươm đi xâm lược nước Champa). 42 năm sau, tính từ năm mất Phú Yên (Aia Ru), nhà nguyễn tiếp tục chinh phạt vương quốc Champa từ năm 1611 đến năm 1653 chiếm đất Kauthara (Aia Terang, Nha Trang) qua các đời vua Panduranga-Champa như sau:

#

​Po Saktiraydapatih (Bà Tử hay Kế Bà Tử), 1695-1727. Một số tên khác Po Saktiray Depatih, Po Saktiray Da Patih, Po Saktiraydaputih. Saktiraydapatih là em ruột của vua Po Saot theo tôn giáo Islam (Hồi giáo). Theo gia phả vua Champa Islam tại Kelantan-Malaysia thì Ngài là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade). Theo tài liệu Wiki thì cho rằng Saktiraydapatih là con của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan. Po Saot (Bà Tranh) trị vì (1659-1692) đến Po Saktiraydapatih (Bà Tử), trị vì (1695-1727), vương triều Champa có sự gián đoạn triều đại trong vòng 3 năm.

#

Tiểu quốc Hoa Anh-Kauthara (1471 - 1611). Kauthara (Hoa-anh, Khánh-hòa, Cổ-đát-la) là một địa khu Champa phân bố trên một không gian từ Tây Nguyên, Phú Yên (Aia Ru) và Kauthara (Khánh Hòa) trải dài cuối cùng ại n vịnh Cam Ranh, cư dân nòng cốt là người Rhade. Nơi này có địa thế chủ yếu là đồng bằng duyên hải nhỏ và hẹp với sự nối liền giữa núi và biển, sự bồi đắp thường xuyên của phù sa theo lưu vực các con sông đổ về cửa biển đã tạo nên khu vực trung tâm Kauthara phát triển về kinh tế xã hội một cách hoàn thiện là nơi hội tụ của ngã ba giao thương cùng với các hoạt động văn hoá - xã hội khi xưa rất nhộn nhịp chỉ đứng sau kinh đô Vijaya (Degar).

#

Po Saot (Bà Tranh), trị vì (1655, 1660-1692). Là vị vua theo Islam (Hồi giáo) mang tên Raja Wan Daim (Raja Champa). Ngài là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade), nguồn gốc cha người Churu và và mẹ người Rhade. Ngài nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Thân, trị vì 33 năm, đóng đô ở Bal Canar, Panduranga (Tuy Phong, Parik).

#

Tiểu quốc Nam Bàn hay Tiểu quốc Jarai (Ala Car Patao Degar, Dhung Vijaya), được tách ra từ địa khu Vijaya-Degar sau khi Đại Việt xâm chiếm và phá hủy thành Vijaya (Đồ Bàn hay Chà Bàn) vào năm 1471. Nam Bàn là một tiểu quốc cổ của các cư dân Nam Đảo ở Tây Nguyên (Champa) nòng cốt là người Jarai và người Rhade kết hợp với những tộc người Champa Vijaya. Bộ phận hoàng tộc Champa Vijaya trong quá trình lịch sử đã đồng hóa vào văn hóa bản địa Jarai. Tiểu quốc Nam Bàn hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 (1471) và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các sắc tắc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 20. Nước Nam Bàn sau này hình thành hai nước Thủy Xá (Patao Ea) và Hỏa Xá (Patao Apui) mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Daklak, … tức miền đất vùng Tây Nguyên ngày nay.

#

Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty – Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga.