#

Tiểu quốc Hoa Anh-Kauthara (1471 - 1611). Kauthara (Hoa-anh, Khánh-hòa, Cổ-đát-la) là một địa khu Champa phân bố trên một không gian từ Tây Nguyên, Phú Yên (Aia Ru) và Kauthara (Khánh Hòa) trải dài cuối cùng ại n vịnh Cam Ranh, cư dân nòng cốt là người Rhade. Nơi này có địa thế chủ yếu là đồng bằng duyên hải nhỏ và hẹp với sự nối liền giữa núi và biển, sự bồi đắp thường xuyên của phù sa theo lưu vực các con sông đổ về cửa biển đã tạo nên khu vực trung tâm Kauthara phát triển về kinh tế xã hội một cách hoàn thiện là nơi hội tụ của ngã ba giao thương cùng với các hoạt động văn hoá - xã hội khi xưa rất nhộn nhịp chỉ đứng sau kinh đô Vijaya (Degar).

#

Po Saot (Bà Tranh), trị vì (1655, 1660-1692). Là vị vua theo Islam (Hồi giáo) mang tên Raja Wan Daim (Raja Champa). Ngài là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade), nguồn gốc cha người Churu và và mẹ người Rhade. Ngài nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Thân, trị vì 33 năm, đóng đô ở Bal Canar, Panduranga (Tuy Phong, Parik).

#

Tiểu quốc Nam Bàn hay Tiểu quốc Jarai (Ala Car Patao Degar, Dhung Vijaya), được tách ra từ địa khu Vijaya-Degar sau khi Đại Việt xâm chiếm và phá hủy thành Vijaya (Đồ Bàn hay Chà Bàn) vào năm 1471. Nam Bàn là một tiểu quốc cổ của các cư dân Nam Đảo ở Tây Nguyên (Champa) nòng cốt là người Jarai và người Rhade kết hợp với những tộc người Champa Vijaya. Bộ phận hoàng tộc Champa Vijaya trong quá trình lịch sử đã đồng hóa vào văn hóa bản địa Jarai. Tiểu quốc Nam Bàn hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 (1471) và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các sắc tắc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 20. Nước Nam Bàn sau này hình thành hai nước Thủy Xá (Patao Ea) và Hỏa Xá (Patao Apui) mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Daklak, … tức miền đất vùng Tây Nguyên ngày nay.

#

Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty – Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga.

#

Hệ thống chữ Rumi Campa do Ts.Putra Podam cải tiến sẽ đưa dân tộc Champa tiếp cận với nền văn minh hiện đại nhất, cơ hội thoát nạn mù chữ Thrah Chăm. Dân tộc Chăm sẽ luôn luôn tự hào vì đã có bộ chữ viết Champa truyền thống là Akhar Thrah (cải tiến từ chữ Champa Hayap), chữ Rumi Campa 2000 (tác giả Ts.Putra Podam), chữ Jawi Chăm (cải tiến từ Jawi Malaysia mà người Chăm Islam Nam bộ đang dùng) và chữ Bani Ả Rập (chữ dành cho tôn giáo, mà Chăm Awal và Chăm Islam đang dùng để viết và học Thiên kinh Koran).

#

Theo cứ liệu của lịch sử Trung Hoa, Việt Nam, Tây phương và đặc biệt sự tồn tại của một số đền tháp ở Vijaya-Degar (thuộc tỉnh Bình Định, nay là tỉnh Gialai) là minh chứng cho sự phát triển hưng thịnh một thời của Vương quốc Champa. Vijaya là một những kinh đô của Champa, sự tồn tại của nó được tính từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 (1471). Vijaya-Degar (tiếng Phạn: विजय) là một trong bốn tiểu bang (tiểu quốc) của người Degar Tây Nguyên và Champa mà kinh đô là Vijaya (Đồ Bàn - Chà Bàn). Vijaya-Degar, theo lịch sử Trung Hoa được gọi là Tân Châu nhằm phân biệt với Cựu Châu là tiểu bang Amaravati ở phía bắc sau khi Champa chuyển kinh đô từ Amaravati về Vijaya-Degar. Theo các nhà nghiên cứu qua các bia ký Champa cho rằng tiểu bang Vijaya-Degar bao phủ tỉnh Bình Định, Tây Nguyên và đôi lúc bao gồm cả Quảng Ngãi. Bởi tiểu bang Vijaya-Degar, Amaravati, … thường phân chia thành khu vực phía bắc Champa trong lịch sử. Theo sử liệu Việt Nam và Trung Quốc thì vương quốc Champa được gọi là “Chiêm Thành” (chữ Hán: 占城) từ năm 877 đến năm 1693, phát xuất từ “Champapura” (Kinh thành Champa). “Chiêm” phiên âm từ “Champa” và “Thành” là từ chuyển ngữ từ “Pura” ám chỉ cho kinh thành, thủ đô, vương quốc của Champa.

#

Trong vài năm gần đây, từ năm 2021, một số phần tử người Chăm vì mất quyền lợi trong tổ chức Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bani, do tính hám danh, hám lợi, lợi dụng tôn giáo để lừa bịp những tín đồ Chăm nhẹ dạ cả tin, buôn bán văn hóa, kích động tôn giáo Chăm, xáo trộn cộng đồng Chăm, gây mất đoàn kết dân tộc. Bằng cách đòi thành lập “Tôn giáo Bani” nhưng không đưa ra một luận cứ khoa học, hay một nghiên cứu nào.

#

Trong đa dạng nền văn hóa trên thế giới có rất nhiều hình thức mai táng như: địa táng (thổ táng), hỏa táng, thủy táng, không táng (thiên táng), …Trong bài viết này chỉ đề cập đến địa táng (thổ táng) của người Hồi giáo (Islam). Tập tục an táng thường là xác người được chôn trong đất. Đây là tập tục bắt nguồn từ thời xa xưa, người ta có thể thấy các khu chôn cất khắp nơi trên thế giới. Thông thường đó là những gò đất, hang động, đền, tháp, lăng mộ, …dùng để lưu giữ thi hài của tổ tiên. Ngày nay, phong tục chôn người chết dưới đất với bia đá để chỉ nơi chôn cất rất phổ biến, tuy nhiên hướng đặt thi hài người chết (theo quan điểm Hồi giáo) thì hoàn toàn giống nhau. Theo quan điểm Hồi giáo (Islam), ngôi mộ phải vuông góc với hướng (qibla, kiblat) là hướng về phía Kaaba (kabah) trong Thánh dduwwofng Hồi giáo linh thiêng ở Mecca (Makkah).

#

Sau khi cầu nguyện (solat, salat, kakuh) trong thánh đường xong thì mọi tín đồ Islam (Awal) thường phải Salam nhau. Tại Malaysia: Tín đồ Islam thường phải Salam nhau với người ngồi bên phải và người ngồi bên trái sau khi cầu nguyện (Solat, Shalat, Kakuh) xong. Sau đó tùy theo mỗi tín đồ Islam có thể Salam thêm với một số người quen, với bạn bè và với một số Imam khác. Awal (Hồi giáo Awal): Tín đồ Awal của Chăm Bani (Chăm có đạo), giáo sĩ (Acar) buộc phải Salam nhau. Nghi thức chào nhau (Salam) trong tác phẩm Akayet Inra Patra gọi là: Jabat Salam. Đối với giáo sĩ (Acar) của Hồi giáo Awal (Islam Champa), thường buộc phải Jabat Salam cho tất cả mọi người trong Thánh đường (Magik). Điều này có thể thực hiện (Jabat Salam) được khi số lượng Acar trong Magik xê dịch trong khoảng từ 10 đến 100 người. Giả sử, nếu tín đồ Acar tăng lên khoảng 3000 (hay trên 5000 người) thì nghi thức Jabat Salam của Awal không thể thực hiện được.

#

Theo nhiều bậc cao niên Jaoh yaw (kể chuyện xưa) truyền lại rằng, Mỵ Ê là sắc tộc Rhade, con của một học giả lừng danh thuộc khu vực Vijaya-Degar (Bình Định), ông là một học giả nổi tiếng và tinh thông Phạn ngữ (Sanskrit), Chăm ngữ (Hayap), Thái, Lào, … Mỵ Ê là con gái ngoan hiền, thùy mị, nết na, tạo hóa đã ban cho nàng không chỉ tố chất thông minh, trí tuệ sáng suốt mà cả nhan sắc tuyệt trần. Nàng Mỵ Ê rất giỏi cầm, kỳ, thi, họa, dệt vải, và sắc thái vương giả. Đặc biệt, tài năng ca múa, âm nhạc của nàng rất toàn diện khiến các thiếu nữ Champa thời ấy không ai bì kịp. Tin tức lan truyền về nhan sắc tuyệt trần và tài năng của nàng Mỵ Ê (H’Bia Mamih Ea) khắp vùng Vijaya. Từ đó, vua Jaya Simhavarman II (Sạ Đẩu) đã nạp nàng Mỵ Ê làm vương phi và hết sức yêu thương.