Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty - Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga. Hậu duệ Ngài Po Krung Garai là R'cam Mal, theo cách gọi của tộc người Rhade và Jarai tại vùng Vijaya- Degar để gọi hoàng tử Harijit, con của hoàng hậu Gaurendraksmi, lên ngôi lấy vương hiệu là Jaya Simhavarman III, mà tài liệu Trung Quốc gọi là Pou Ti, tức Raja Kembayat (đức vua Chế Mân) vua Islam (Hồi giáo) trong quyển "Bidasari and The Djinn" của Ninot Aziz, là vị vua thứ 12 của triều đại thứ 11 vào thế kỷ 13, đã cho xây dựng Tháp Po Klong Garai tại Phan Rang (Panduranga) vào cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14. |
Kauthara (chữ Phạn: कौठर, Kauthar) là một địa khu Champa phân bố trên một không gian từ Phú Yên (Aia Ru) trải dài cuối cùng đến vịnh Cam Ranh. Từ “Kauṭharā” trong Hindu giáo thường sử dụng để chỉ các địa điểm linh thiêng. Ở vương quốc Champa địa điểm linh thiêng chính là ngôi đền Po Ina Nagar (Bimong Po Ina Nagar), nơi được tôn vinh là trung tâm tôn giáo của Champa thời vương quốc. Sau khi Champa bị đất Phú Yên (Aia Ru) thuộc tiểu quốc Hoa Anh (1471 - 1611) dưới bàn tay của Chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1611, tức Nguyễn Thái Tổ, Chúa Tiên là chúa Nguyễn, ông đầu tiên đặt nền móng cho triều đại nhà Nguyễn (1558-1945). Nhà Nguyễn chưa chịu dừng chân tại đất Phú Yên (Aia Ru), mà tiếp tục cầm gươm đi mở mang bờ cõi tiến về phía Nam (tức cầm gươm đi xâm lược nước Champa). 42 năm sau, tính từ năm mất Phú Yên (Aia Ru), nhà nguyễn tiếp tục chinh phạt vương quốc Champa từ năm 1611 đến năm 1653 chiếm đất Kauthara (Aia Terang, Nha Trang) qua các đời vua Panduranga-Champa như sau: |
Po Saktiraydapatih (Bà Tử hay Kế Bà Tử), 1695-1727. Một số tên khác Po Saktiray Depatih, Po Saktiray Da Patih, Po Saktiraydaputih. Saktiraydapatih là em ruột của vua Po Saot theo tôn giáo Islam (Hồi giáo). Theo gia phả vua Champa Islam tại Kelantan-Malaysia thì Ngài là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade). Theo tài liệu Wiki thì cho rằng Saktiraydapatih là con của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan. Po Saot (Bà Tranh) trị vì (1659-1692) đến Po Saktiraydapatih (Bà Tử), trị vì (1695-1727), vương triều Champa có sự gián đoạn triều đại trong vòng 3 năm. |
Tiểu quốc Hoa Anh-Kauthara (1471 - 1611). Kauthara (Hoa-anh, Khánh-hòa, Cổ-đát-la) là một địa khu Champa phân bố trên một không gian từ Tây Nguyên, Phú Yên (Aia Ru) và Kauthara (Khánh Hòa) trải dài cuối cùng ại n vịnh Cam Ranh, cư dân nòng cốt là người Rhade. Nơi này có địa thế chủ yếu là đồng bằng duyên hải nhỏ và hẹp với sự nối liền giữa núi và biển, sự bồi đắp thường xuyên của phù sa theo lưu vực các con sông đổ về cửa biển đã tạo nên khu vực trung tâm Kauthara phát triển về kinh tế xã hội một cách hoàn thiện là nơi hội tụ của ngã ba giao thương cùng với các hoạt động văn hoá - xã hội khi xưa rất nhộn nhịp chỉ đứng sau kinh đô Vijaya (Degar). |
Po Saot (Bà Tranh), trị vì (1655, 1660-1692). Là vị vua theo Islam (Hồi giáo) mang tên Raja Wan Daim (Raja Champa). Ngài là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu người Rhade tên Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade), nguồn gốc cha người Churu và và mẹ người Rhade. Ngài nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Thân, trị vì 33 năm, đóng đô ở Bal Canar, Panduranga (Tuy Phong, Parik). |
Tiểu quốc Nam Bàn hay Tiểu quốc Jarai (Ala Car Patao Degar, Dhung Vijaya), được tách ra từ địa khu Vijaya-Degar sau khi Đại Việt xâm chiếm và phá hủy thành Vijaya (Đồ Bàn hay Chà Bàn) vào năm 1471. Nam Bàn là một tiểu quốc cổ của các cư dân Nam Đảo ở Tây Nguyên (Champa) nòng cốt là người Jarai và người Rhade kết hợp với những tộc người Champa Vijaya. Bộ phận hoàng tộc Champa Vijaya trong quá trình lịch sử đã đồng hóa vào văn hóa bản địa Jarai. Tiểu quốc Nam Bàn hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 (1471) và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các sắc tắc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 20. Nước Nam Bàn sau này hình thành hai nước Thủy Xá (Patao Ea) và Hỏa Xá (Patao Apui) mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Daklak, … tức miền đất vùng Tây Nguyên ngày nay. |
Theo sử liệu của người Champa và các sử liệu Việt Nam và Tây phương để lại, Po Krung Garai (Po Klong Garai: Thủ lĩnh Rồng) là nhân vật có thật trong lịch sử Champa. Ngài Po Krung Garai là vị vua thứ tư trong triều đại thứ 11 (11th Dynasty – Vijaya) đóng đô ở thành Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar của Vương quốc Campa. Trong quá trình trị vị, với tài năng, đức độ và văn thao võ song toàn, ông không chỉ có công đánh giặc ngoại xâm, kiến thiết đất nước Champa trong lịch sử mà còn có công lớn cho công trình thủy lợi ở tiểu bang Vijaya-Degar và Panduranga. |
|
Hệ thống Rumi Cham chuẩn được xây dựng trên cơ sở 21 ký tự Latin nhằm biểu đạt đầy đủ hệ thống âm vị học của tiếng Cham. Hệ thống này phản ánh trung thực cấu trúc âm thanh và quy tắc chính tả truyền thống, đảm bảo sự tương ứng chặt chẽ giữa ký hiệu chữ viết và phát âm. Nhờ vậy, Rumi Cham chuẩn đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, nghiên cứu ngôn ngữ và bảo tồn văn hóa Cham, đồng thời chuẩn hóa việc ghi chép từ vựng truyền thống. Hệ thống này được thiết kế để biểu đạt tất cả các âm vị của tiếng Cham mà không cần bổ sung ký tự mới, tạo nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu và ứng dụng liên quan đến chữ viết Cham. Hệ thống Rumi Champa (Rumi Cham 2000) là nền tảng để xây dựng giáo trình, phần mềm và các công trình nghiên cứu, góp phần bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Cham trong thời hiện đại. Rumi Champa (Rumi Cham 2000) do TS. Putra Podam cải tiến từ Rumi EFEO, trong một chuyên đề Thạc sỹ (Master) về Khoa học Máy tính tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) năm 2000. Hệ thống này phục vụ nghiên cứu, giáo trình, phần mềm bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Cham, giúp học sinh, nghiên cứu sinh và cộng đồng quốc tế tiếp cận chữ Thrah thuận tiện, đồng thời duy trì tính chính xác về ngữ âm và ngữ pháp. TS.Putra Podam, Rumi Champa (bản phiên âm), đã xây dựng, tiếp tục cải tiến và áp dụng đầu tiên trong cuốn luận án Thạc sỹ (Master) tại Viện Công nghệ Châu Á (Thailand) mang tựa đề: “Cải tiến Rumi Campa để xây dựng ứng dụng bảo tồn và phát huy ngôn ngữ Cham”, báo cáo năm 2004. TS.Putra Podam, Rumi Champa (Rumi Cham 2000) đã báo cáo tại hội thảo quốc tế. “Rumi Champa: A Modern Writing System for the Cham Language”. The 5th International Conference on Posgraduate Education (ICPE-5 2012). Malaysia, 18-19 December, 2012. |
Theo cứ liệu của lịch sử Trung Hoa, Việt Nam, Tây phương và đặc biệt sự tồn tại của một số đền tháp ở Vijaya-Degar (thuộc tỉnh Bình Định, nay là tỉnh Gialai) là minh chứng cho sự phát triển hưng thịnh một thời của Vương quốc Champa. Vijaya là một những kinh đô của Champa, sự tồn tại của nó được tính từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15 (1471). Vijaya-Degar (tiếng Phạn: विजय) là một trong bốn tiểu bang (tiểu quốc) của người Degar Tây Nguyên và Champa mà kinh đô là Vijaya (Đồ Bàn - Chà Bàn). Vijaya-Degar, theo lịch sử Trung Hoa được gọi là Tân Châu nhằm phân biệt với Cựu Châu là tiểu bang Amaravati ở phía bắc sau khi Champa chuyển kinh đô từ Amaravati về Vijaya-Degar. Theo các nhà nghiên cứu qua các bia ký Champa cho rằng tiểu bang Vijaya-Degar bao phủ tỉnh Bình Định, Tây Nguyên và đôi lúc bao gồm cả Quảng Ngãi. Bởi tiểu bang Vijaya-Degar, Amaravati, … thường phân chia thành khu vực phía bắc Champa trong lịch sử. Theo sử liệu Việt Nam và Trung Quốc thì vương quốc Champa được gọi là “Chiêm Thành” (chữ Hán: 占城) từ năm 877 đến năm 1693, phát xuất từ “Champapura” (Kinh thành Champa). “Chiêm” phiên âm từ “Champa” và “Thành” là từ chuyển ngữ từ “Pura” ám chỉ cho kinh thành, thủ đô, vương quốc của Champa. |
Trong vài năm gần đây, từ năm 2021, một số phần tử người Chăm vì mất quyền lợi trong tổ chức Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bani, do tính hám danh, hám lợi, lợi dụng tôn giáo để lừa bịp những tín đồ Chăm nhẹ dạ cả tin, buôn bán văn hóa, kích động tôn giáo Chăm, xáo trộn cộng đồng Chăm, gây mất đoàn kết dân tộc. Bằng cách đòi thành lập “Tôn giáo Bani” nhưng không đưa ra một luận cứ khoa học, hay một nghiên cứu nào. |