Po At (Po Patao At) - vị vua Islam của Panduranga

Author: Putra Podam
In category Research
Feb 5, 2024, 12:26 AM Print

Bài viết gửi tặng: nhân sĩ, trí thức xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.


Po Patao At và vương triều Po Mahosarak

Po Patao At, còn gọi là Po At, trị vì Panduranga từ năm 1553 đến năm 1579, kế vị Po Kunarai và là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak. Sakkarai Dak Rai Patao, biên niên sử Panduranga bằng tiếng Cham, ghi Po At là cháu của Po Kunarai và trị vì 27 năm.

Các tư liệu về Panduranga ghi nhận Po At theo Islam. Trong sử liệu Hán-Việt, ông được ghi là Bà Ất. Tư liệu của Ts. Putra Podam và một số tư liệu khác ghi tên Islam của ông là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim.

Po At có hoàng hậu là Bia Kati và hoàng tử Cei Sak Malaow. Triều đại của ông thuộc giai đoạn Panduranga tiếp tục duy trì vương quyền ở phía nam sau những biến động lớn của Champa từ cuối thế kỷ XV, đồng thời phát triển quan hệ với thế giới Melayu-Islam.

Theo tư liệu truyền thống, Po At xây dinh riêng bên ngoài khu vực Biuh Bal Batsinâng, còn gọi là Hamu Linâng. Về sau, Parik (Phan Rí) trở thành một trung tâm quan trọng trong không gian chính trị của Panduranga.

Hình 1. Po At (1553-1579), vị vua Panduranga trị vì từ năm 1553 đến 1579. Po At, còn gọi là Po Patao At, Hán-Việt Bà Ất, thuộc Triều đại V - Po Mahosarak. Theo truyền thống sử liệu Panduranga, ông là cháu của Po Kunarai và kế vị năm 1553. Trung tâm quyền lực của ông đặt tại Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng), về sau gắn với Parik (Phan Rí). Các tư liệu của Panduranga và truyền thống Chamic-Islam ghi nhận Po At thuộc vương quyền Islam. Theo Ts. Putra Podam tên Islam của Po At là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim. Triều đại Po At gắn với sự phát triển của quan hệ giữa Panduranga với các mạng lưới Melayu-Islam, đặc biệt là Johor. Hình ảnh Po At với trang phục hoàng gia mang họa tiết dệt truyền thống Chamic, khăn đội đầu, kiếm và không gian kiến trúc Champa ven biển, hình tượng một vị vua Panduranga trong bối cảnh thế kỷ XVI. Ảnh: Putra Podam.

Truyền thống về Po Patao At và Palei Panet

Theo lời kể của các bậc cao niên tại Phan Hòa, trong thời kỳ được truyền thống địa phương gọi là Ka-lin, Po Patao At cùng các tướng lĩnh phải rút quân lên vùng núi để bảo toàn lực lượng. Truyền thống kể rằng sau một thời gian xảy ra hạn hán kéo dài, hoa màu bị khô hạn, lương thực trở nên thiếu thốn.

Po Patao At cùng đoàn người sau đó rời vùng núi và di chuyển về phía nam Panduranga. Khi đến một vùng đất có đồng ruộng, cát trắng và điều kiện thuận lợi cho cư trú, nhà vua cho quan quân và thần dân khai phá đất đai, lập ruộng vườn và định cư. Truyền thống cộng đồng tại Phan Hòa gắn quá trình này với sự hình thành Palei Panet.

Theo ký ức được lưu truyền tại địa phương, cư dân Palei Panet ngày nay có nguồn gốc từ cộng đồng từng đi theo Po Patao At trong quá trình khai phá và định cư tại vùng đất này.

Những nội dung trên thuộc lớp truyền thống cộng đồng và cần được phân biệt với các ghi chép trong biên niên sử Panduranga.

Hình 2. Bản đồ Champa-Panduranga năm 1553 dưới thời Po At (Po Patao At, 1553-1579), thể hiện các không gian chính gồm Vijaya, Kauthara, Panduranga và Cao nguyên Champa (Nam Bàn), cùng các vùng tiếp giáp Đại Việt, Ai Lao và Chân Lạp. Bản đồ về vị trí các trung tâm quyền lực, địa danh quan trọng, đường biên giới ước đoán và không gian biển Laut Champa.

Cây kiếm và quan hệ với Johor

Tại Palei Panet, dòng họ Nguyễn Hữu Mẫn từng lưu giữ một chiếc áo giáp, gọi là aw khik rup, cùng một cây kiếm có chữ Ả Rập. Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, cây kiếm được truyền lại là quà tặng từ Johor dành cho Po Patao At.

Hiện vật này là một chứng tích được lưu truyền trong dòng họ và gắn với ký ức về quan hệ giữa Panduranga và thế giới Melayu-Islam. Niên đại, chất liệu, nội dung chữ Ả Rập và nguồn gốc của cây kiếm cần được tiếp tục khảo sát và giám định.

Hình 3. Dòng tộc ông Nguyễn Hữu Mẫn lưu giữ áo giáp (ao khik rup) và cây kiếm có khắc chữ Ả Rập, được truyền lại trong gia tộc là quà tặng từ Johor dành cho Po Patao At.

Đền Po Patao At tại Car Limaow

Đền Po Patao At, được người dân địa phương gọi là đền Po Patao At, trước đây được xây dựng trên một ngọn đồi gọi là Car Limaow, gần khu ruộng được truyền lại là đất của Bia Kati, thuộc khu vực Hậu Quách cũ, phía sau Palei Panet, nay thuộc Bình Thắng, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình.

Địa điểm này nằm bên kia Rabaong Lah và cách trụ sở xã Phan Hòa khoảng một kilômét về phía bắc.

Năm 1930, cư dân địa phương đóng góp để tu sửa ngôi đền bằng gạch và lợp mái ngói nhằm duy trì không gian tưởng niệm Po Patao At.

Theo truyền thống địa phương, ngôi đền từng bị hư hỏng do chiến tranh và bom đạn. Năm 1960, cộng đồng tiếp tục tu sửa công trình.

Trong những giai đoạn sau, khu vực đền cũng từng bị đào phá và mất mát một số vật liệu, hiện vật. Đền Po At vì thế chịu nhiều biến động trước khi được cộng đồng di dời và xây dựng lại tại địa điểm mới.

Hình 4, 5. Chân kèn đền Po At (Po Patao At) tại Car Limaow, kề ruộng bà Tận, thuộc làng Hậu Quách cũ, phía sau Palei Panet (Bình Thắng, Phan Hòa, Bắc Bình, Bình Thuận), bên kia Rabaong Lah, cách trụ sở Ủy ban xã Phan Hòa khoảng 1 km về phía bắc. Ảnh: Adam Podam, ngày 10 tháng 2 năm 2021.

Di dời đền Po Patao At về Mbok Dhot

Năm 1989, cộng đồng Palei Panet quyết định di dời đền Po Patao At về khu vực cuối làng, tại ngọn đồi Mbok Dhot, tức gò Thốt. Việc di dời nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cộng đồng trong việc bảo quản và tổ chức các hoạt động tưởng niệm nhà vua.

Hình 6. Đền Po At (Po Patao At), được xây dựng lại lần thứ ba tại Mbok Dhot, thôn Bình Thắng, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, năm 1989. Ảnh tư liệu năm 1989: Putra Podam.

Bia Kati và không gian ký ức tại Đồi Cát

Po Patao At có hoàng hậu là Bia Kati. Theo truyền thống cộng đồng, Bia Kati không sống cùng Po At trong suốt thời gian trị vì mà cùng những người tùy tùng đi khai phá và cư trú tại một khu vực đồi cát gần đó.

Hiện nay, địa điểm tưởng niệm Bia Kati được cộng đồng gắn với khu vực Đồi Cát, thuộc Hòa Minh. Không gian này lưu giữ ký ức về hoàng hậu và vùng đất được truyền thống địa phương liên hệ với quá trình khai phá của bà.

Đất ruộng gắn với Bia Kati được cộng đồng gọi là ruộng Po Patao At Bà Kati. Những biến đổi về quản lý đất đai trong các giai đoạn sau đã làm thay đổi phạm vi sử dụng truyền thống của cộng đồng đối với khu vực này.

Trong ký ức cộng đồng, Po Patao At còn được ghi nhận là người có công khai phá đất đai, phát triển thủy lợi và canh tác lúa nước. Những truyền thống này góp phần giải thích vì sao cộng đồng lập không gian tưởng niệm nhà vua và duy trì ký ức về công lao của ông.

Đền Po Patao At và patau nisan

Đền Po Patao At tại Mbok Dhot có một gian chính. Bên trong có patau nisan, tức bia đá tưởng niệm Po Patao At.

Phần đất còn lại gắn với đền hiện khoảng 5 sào và được cộng đồng quản lý, cho thuê để tạo nguồn kinh phí phục vụ việc bảo quản và duy trì hoạt động tại khu tưởng niệm.

Không gian này có ý nghĩa tưởng niệm và ghi nhớ một vị vua trong lịch sử Panduranga, không phải nơi thờ phụng Po At như một thần linh.

Hình 7, 8. Bia đá (patau nisan) của Po Patao At tại đền xây dựng lại năm 1989. Bia đá vốn để lộ nguyên trạng, về sau được cộng đồng địa phương phủ vải đỏ trong truyền thống tưởng niệm Po At. Vua Po Patao At được các tư liệu Panduranga-Chamic ghi nhận là một vị vua Islam. Ảnh: Putra Podam.

Cei Sak Malaow và Phun Kraik

Cei Sak Malaow được truyền thống địa phương ghi nhận là con trai của Po Patao At.

Tại phía tây Palei Panet có hai cây Lim cổ thụ được người dân địa phương gọi là Phun Kraik, người địa phương còn phát âm là Phun Kran. Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, những cây này có tuổi đời trên 400 năm và gắn với ký ức về Cei Sak Malaow.

Truyền thống địa phương kể rằng Cei Sak Malaow được an táng tại khu vực này và gắn với cây Lim được cộng đồng xem là cây thiêng. Câu chuyện được lưu truyền trong cộng đồng Palei Panet như một phần ký ức về hoàng tử Cei Sak Malaow.

Hình 9, 10. Cây Lim cổ thụ tại Palei Panet, được người dân địa phương gọi là Phun Kraik hoặc Phun Kran, theo truyền thống được cho là hơn 400 năm tuổi và gắn với ký ức về Cei Sak Malaow trong truyền thống Po At. Ảnh: Putra Podam.

Theo lời kể của ông Văn Ngọc Ánh (Abraham Podam), cha của Ts. Putra Podam, trước năm 1975 có một đồn canh gác của lực lượng Việt Nam Cộng Hòa ở gần dưới gốc cây Phun Kraik. Vào những đêm trăng sáng, một số người lính làm nhiệm vụ canh gác tại đây được kể là đã nhìn thấy một con trăn lớn xuất hiện quanh khu vực gốc cây. Theo truyền thống địa phương, con trăn này được xem là hiện thân của Cei Sak Malaow. Câu chuyện được lưu truyền trong cộng đồng và gắn với ký ức về Cei Sak Malaow tại Phun Kraik.

Hình 11. Adam Podam, người cung cấp hình ảnh trong bài viết. Ảnh chụp ngày 10 tháng 2 năm 2021.

Ký ức cộng đồng về Po Patao At và Bia Kati

Ký ức về Po Patao At và Bia Kati không chỉ được bảo tồn qua đền, bia đá và địa danh mà còn được duy trì trong truyền thống cầu nguyện của cộng đồng.

Trong hệ thống lời cầu nguyện được lưu truyền tại Phan Hòa, tên Po Patao At và Bia Kati được nhắc đến cùng với các nhân vật và đấng thiêng trong truyền thống tôn giáo của cộng đồng.

Năm 2016, do đền Po Patao At xuống cấp, hậu duệ của nhà vua và cư dân thôn Bình Thắng, xã Phan Hòa đã đóng góp kinh phí để xây dựng lại công trình.

Hình 12. Đền tưởng niệm Po Patao At tại thôn Bình Thắng, xã Phan Hòa, tỉnh Bình Thuận, được hậu duệ nhà vua và cư dân địa phương quyên góp xây dựng lại từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 4 năm 2018, trên khuôn viên khoảng 1.000 m². Công trình cao khoảng 15 m, rộng khoảng 8 m, mang hình thức kiến trúc tháp Champa. Trên mặt tiền có tượng Shiva của Hindu giáo; phía trên đỉnh tháp có một hình tượng khác. Việc đưa các hình tượng này vào công trình cần được xem xét trong mối quan hệ với mục đích tưởng niệm Po Patao At, vị vua được tư liệu Panduranga và truyền thống cộng đồng ghi nhận theo Islam. Ảnh: Putra Podam.

Đền tưởng niệm Po Patao At trước đây có cấu trúc đơn giản, bên trong chỉ đặt một patau nisan, tức bia đá tưởng niệm nhà vua. Công trình mới được xây dựng theo mô hình tháp Champa. Theo phản ánh của các bậc cao niên trong cộng đồng, người thiết kế công trình là Thành Phần đã đưa tượng Shiva lên khu vực tháp, đồng thời bố trí Linga và Yoni bên trong công trình.

Việc sử dụng hình thức kiến trúc tháp Champa để xây dựng đền tưởng niệm Po At cần được phân biệt với việc đưa các biểu tượng và yếu tố nghi lễ Hindu giáo vào bên trong công trình. Po At được các tư liệu Panduranga ghi nhận theo Islam, và patau nisan là chứng tích tưởng niệm gắn trực tiếp với nhà vua. Do đó, việc đặt tượng Shiva, Linga và Yoni trong không gian tưởng niệm Po At tạo ra sự không phù hợp giữa bản chất tôn giáo của nhân vật được tưởng niệm với hệ thống biểu tượng được đưa vào công trình.

Theo phản ánh của các bậc cao niên địa phương, vấn đề này đã được cộng đồng lưu ý trong quá trình xây dựng. Việc đưa các biểu tượng Shiva, Linga và Yoni vào tháp dường như xuất phát từ quan niệm cho rằng kiến trúc tháp Champa phải đi kèm với các biểu tượng Hindu giáo. Cách xử lý này không phù hợp với lịch sử và ký ức tôn giáo gắn với Po At.

Để bảo đảm tính xác thực của không gian tưởng niệm, cần xem xét tháo tượng Shiva tại cổng tháp và đưa Linga, Yoni ra khỏi không gian bên trong tháp. Công trình cần được trả lại đúng chức năng là nơi tưởng niệm Po Patao At, bảo tồn patau nisan và ký ức lịch sử về một vị vua Panduranga được cộng đồng ghi nhận theo Islam. Đây không chỉ là vấn đề về kiến trúc mà còn liên quan trực tiếp đến việc bảo tồn bản sắc văn hóa, tôn giáo và ký ức lịch sử của Po At tại Palei Panet - Phan Hòa.

Đền tháp Po Patao At xây dựng năm 2016-2018

Ngày 28 tháng 4 năm 2018, tại thôn Bình Thắng, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận diễn ra lễ khánh thành đền tháp Po Patao At.

Công trình được xây dựng từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 4 năm 2018 trên khuôn viên khoảng 1.000 mét vuông. Công trình mang hình thức kiến trúc tháp Champa, cao khoảng 15 mét, rộng khoảng 8 mét, với kinh phí gần 2 tỷ đồng do cộng đồng đóng góp.

Công trình mới tiếp tục vai trò tưởng niệm Po Patao At trong không gian văn hóa của Palei Panet.

Phan Hòa là địa bàn cư trú của cộng đồng Cham Awal (Hồi giáo sờ kỳ), trong đó truyền thống tôn giáo Awal (Hồi giáo) được duy trì trong đời sống cộng đồng.

Hình 13, 14. Linga và Yoni trong không gian tưởng niệm Po Patao At tại Phan Hòa. Đây là những biểu tượng tôn giáo gắn với Hindu giáo. Việc đặt patau nisan của Po Patao At lên hệ thống Linga–Yoni tạo ra sự không phù hợp giữa chứng tích tưởng niệm một vị vua được cộng đồng ghi nhận theo Islam và hệ thống biểu tượng của Hindu giáo. Bia đá cần được đặt ở vị trí độc lập, trang trọng, đúng với chức năng tưởng niệm. Kiến trúc tháp Champa là một di sản lịch sử có giá trị, nhưng hình thức kiến trúc không đồng nghĩa với việc mọi công trình đều phải mang nội dung Hindu giáo. Đối với đền tưởng niệm Po Patao At, điều cần được bảo tồn trước hết là patau nisan, tên tuổi nhà vua, lịch sử vương quyền Panduranga và ký ức của cộng đồng Cham Awal tại Phan Hòa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 15, 16. Bia mới tại đền Po Patao At, ghi nhớ nhà vua được truyền thống cộng đồng xác nhận theo Islam.

Ý nghĩa của đền Po Patao At

Công trình đền Po Patao At được cộng đồng xây dựng và duy trì nhằm tưởng niệm nhà vua và ghi nhớ một giai đoạn lịch sử của Panduranga.

Po At được các tư liệu Panduranga ghi nhận theo Islam. Việc bảo tồn tên tuổi, bia đá, địa điểm tưởng niệm và truyền thống liên quan đến ông phản ánh sự tiếp nối ký ức lịch sử của cộng đồng tại Palei Panet.

Po Patao At và quan hệ với Johor

Thế kỷ XVI là giai đoạn Panduranga duy trì quan hệ với thế giới Melayu-Islam. Các mạng lưới hàng hải nối Panduranga với bán đảo Mã Lai, Melaka, Johor và các trung tâm thương mại trong khu vực tạo điều kiện cho giao lưu thương mại, chính trị, quân sự và tôn giáo.

Tư liệu của Ts. Putra Podam lưu giữ một truyền thống về quan hệ giữa Po Patao At và Johor. Theo truyền thống này, Po At có quan hệ với Sultan Mahmud Shah và Panduranga từng đưa lực lượng quân sự hỗ trợ Johor.

Một lớp tư liệu khác ghi nhận năm 1594, một vị vua Champa đưa lực lượng hỗ trợ phía Melaka-Johor trong cuộc đối đầu với người Bồ Đào Nha tại Melaka. Sự kiện năm 1594 xảy ra sau khi Po At kết thúc triều đại vào năm 1579, do đó không thể trực tiếp quy sự kiện này cho Po At. Tư liệu này có giá trị trong việc cho thấy quan hệ Champa-Melayu-Johor tiếp tục được duy trì trong những thập niên sau triều đại của ông.

Truyền thống về Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim và Johor

Theo tư liệu truyền thống được lưu giữ trong cộng đồng, tên Islam của Po Patao At là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim.

Câu chuyện truyền thống kể rằng trong thời gian ở cung điện hoàng gia Champa tại Bal Cau thuộc Panduranga, nhà vua nhận được một bức thư từ Johor. Bức thư được truyền lại là do Sultan Mahmud Shah gửi và được chuyển đến bằng một con chim Hud Hud tên Waraqah.

Theo câu chuyện, bức thư được viết bằng Jawi, tức chữ Ả Rập được sử dụng để ghi tiếng Melayu, với nội dung kêu gọi nhà vua Panduranga gửi lực lượng hỗ trợ Johor trong cuộc đối đầu với người Bồ Đào Nha.

Đây là một câu chuyện thuộc lớp truyền thống Melayu-Champa được lưu truyền trong tư liệu cộng đồng. Các chi tiết về Waraqah, bức thư Jawi, Sultan Mahmud Shah, tướng Shalahuddin và số lượng chiến thuyền cần được tiếp tục đối chiếu với sử liệu Johor, Melaka và Bồ Đào Nha.

Hình 17. Sultan Mahmud Shah, vua Johor, trong quan hệ ngoại giao và quân sự giữa Johor và Champa dưới thời Po Patao At. Ảnh: Sưu tầm.

Theo truyền thống được ghi lại, sau khi đọc thư, Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim ra lệnh triệu tập tướng lĩnh và quân đội. Lực lượng Champa được kể gồm khoảng 400 chiến thuyền, xuất phát từ vùng Canah, tức khu vực Cà Ná.

Tướng Shalahuddin được truyền thống ghi nhận là người am hiểu đường biển và dẫn lực lượng Champa tiến về khu vực Johor.

Theo câu chuyện, lực lượng Champa đến nơi trong lúc Johor đang đối đầu với hạm đội Bồ Đào Nha và tham gia cuộc chiến trên biển.

Những chi tiết về 400 chiến thuyền, thời gian hành quân và diễn biến trận chiến thuộc lớp truyền thống được lưu truyền về quan hệ Panduranga-Johor. Chúng cần được phân biệt với các chứng cứ lịch sử đương thời có thể kiểm chứng độc lập.

Hình 18. Sultan Mahmud Shah, vua Johor, ra trận cùng lực lượng chống Bồ Đào Nha tại Melaka. Ảnh: Sưu tầm.

Po At và quan hệ với Đại Việt

Sau biến cố Vijaya năm 1471, trung tâm chính trị của Champa dịch chuyển về phía nam. Panduranga tiếp tục duy trì vương quyền trong một không gian chính trị mới và quan hệ với các thế lực ở phía bắc.

Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng trực tiếp quản lý Thuận Hóa và Quảng Nam, đưa phạm vi kiểm soát của họ Nguyễn tiến gần hơn đến Panduranga.

Năm 1578, Champa có hoạt động quân sự tại khu vực Phú Yên. Các nguồn Việt Nam ghi nhận sự kiện Lương Văn Chánh đánh Thành Hồ. Sự kiện này nằm trong chuỗi quan hệ quân sự và lãnh thổ giữa Panduranga với chính quyền Đại Việt ở phía bắc.

Những diễn biến vào cuối triều Po At cho thấy Panduranga vẫn duy trì khả năng quân sự và tham gia chủ động vào các quan hệ khu vực.

Po At và Islam tại Panduranga

Po At trị vì trong giai đoạn Islam đã hiện diện rõ trong tầng lớp vương quyền Panduranga. Việc nhà vua được ghi nhận với tên Islam cho thấy danh xưng Islam đã trở thành một thành tố trong đời sống chính trị của hoàng gia.

Sự hiện diện của Islam trong vương quyền Panduranga gắn với mạng lưới quan hệ rộng hơn giữa Panduranga và thế giới Melayu-Islam. Quá trình này diễn ra trong thời gian dài và không đồng nhất với tình trạng tôn giáo của toàn bộ xã hội Panduranga trong cùng thời kỳ.

Về sau, cộng đồng Panduranga hình thành và phát triển các truyền thống Awal và Ahier trong đời sống tôn giáo. Dưới thời Po Rome, cấu trúc Awal-Ahier được thể hiện rõ hơn trong đời sống cộng đồng.

Phan Hòa và hệ thống chứng tích Po At

Palei Panet, nay thuộc Phan Hòa, là một địa điểm quan trọng trong ký ức cộng đồng về Po Patao At. Các tư liệu cộng đồng ghi nhận tại đây nhiều địa điểm, địa danh và hiện vật liên quan đến nhà vua, Bia Kati và Cei Sak Malaow.

Các chứng tích được ghi nhận gồm Đền Po Patao At tại Palei Panet - Bình Thắng, với địa điểm cũ tại Car Limaow, địa điểm mới tại Mbok Dhot và patau nisan của Po At; không gian Bia Kati tại Đồi Cát - Hòa Minh; cây kiếm có chữ Ả Rập được dòng họ Nguyễn Hữu Mẫn lưu giữ; Phun Kraik, còn được người địa phương phát âm là Phun Kran, gắn với ký ức về Cei Sak Malaow; và Mbok At, còn gọi Mbok Patao hoặc Mbok Patao At, là địa danh được cộng đồng lưu truyền và gắn trực tiếp với Po At.

Các địa điểm và hiện vật trên thuộc những lớp tư liệu khác nhau. Đền Po Patao At, patau nisan và cây kiếm là những chứng tích vật chất, có thể tiếp tục được khảo sát về niên đại, nguồn gốc và quá trình lưu truyền. Các địa danh, truyền thống dòng họ và ký ức cộng đồng phản ánh quá trình lưu giữ và truyền lại lịch sử qua nhiều thế hệ. Những câu chuyện về Cei Sak Malaow, Phun Kraik và con trăn xuất hiện dưới gốc cây thuộc lớp truyền thuyết dân gian được lưu truyền tại địa phương. Các lớp tư liệu này góp phần làm rõ ký ức về Po At, gia đình hoàng gia và vương quyền Panduranga tại Phan Hòa.

Tranh luận về Đàn Tiên Nông tại Phan Hòa

Các bài viết của Ja Karo đăng trên Champaka.info năm 2012 ghi lại những phản ứng của cư dân Cham tại Phan Hòa trước chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông trong khu vực cư trú của cộng đồng.

Các bài viết đặt vấn đề về việc lựa chọn khu đất giữa làng Bình Minh để xây dựng một công trình tín ngưỡng của người Việt, trong khi khu vực này nằm trong không gian cư trú của cộng đồng Cham Bani. Tác giả cũng ghi nhận những ý kiến của cư dân liên quan đến đất đai, không gian văn hóa và sự khác biệt tín ngưỡng.

Theo các bài viết, Phan Hòa có hệ thống làng và cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng Cham Bani, trong đó có các địa điểm liên quan đến Po At và Po Klaong Kasat. Bài viết cũng nhắc đến cụm tháp Po Dam ở phía tây Phan Hòa và đặt vấn đề về tình trạng bảo tồn các di tích Champa trong khu vực.

Một vấn đề được đặt ra là sự khác biệt giữa nghi lễ Đàn Tiên Nông và tín ngưỡng của cộng đồng Cham Bani. Bài viết của Ja Karo đề cập đến lễ vật heo nguyên con trong nghi lễ Đàn Tiên Nông và đặt câu hỏi về khả năng xảy ra xung đột với quy định kiêng thịt heo của cộng đồng Bani.

Bài viết cũng ghi nhận Quyết định số 1777/QĐ-UBND ngày 11 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc công nhận Đàn Tiên Nông là di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh. Ja Karo đặt câu hỏi về cơ sở lịch sử, khảo cổ và quá trình xác lập địa điểm này. Những nhận định trên thuộc lập luận và phản ánh của tác giả trong các bài viết năm 2012.

Nhóm tư liệu này bổ sung một lớp tư liệu về đời sống xã hội, không gian cư trú, tín ngưỡng và tranh luận di sản tại Phan Hòa trong giai đoạn 2008-2012.

Những năm cuối triều đại và kế vị

Những năm cuối triều Po At diễn ra trong bối cảnh quan hệ giữa Panduranga với các thế lực phía bắc ngày càng phức tạp.

Năm 1578, Champa có hoạt động quân sự tại khu vực Phú Yên. Một năm sau, năm 1579, Po At kết thúc 27 năm trị vì.

Po Klong Halau kế vị Po At, mở đầu một giai đoạn mới trong lịch sử Panduranga. Sự chuyển giao này đánh dấu sự kết thúc của vương triều Po Mahosarak trong chuỗi vương quyền Panduranga.

Po At trong ký ức lịch sử Panduranga

Po At là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak và là một nhân vật quan trọng của Panduranga thế kỷ XVI. Triều đại của ông nằm trong giai đoạn Panduranga duy trì vương quyền ở phía nam sau biến cố Vijaya năm 1471, đồng thời phát triển quan hệ với thế giới Melayu-Islam.

Về lịch sử chính trị, Po At gắn với Biuh Bal Batsinâng và giai đoạn cuối của vương triều Po Mahosarak. Về lịch sử khu vực, triều đại của ông nằm trong thời kỳ Champa tiếp tục tham gia các mạng lưới Melayu-Islam và duy trì khả năng quân sự ở phía bắc.

Trong ký ức cộng đồng, Po At để lại một hệ thống chứng tích tập trung tại Palei Panet - Phan Hòa. Đền tưởng niệm Po At, patau nisan, ký ức về Bia Kati, Cei Sak Malaow, Phun Kraik, cây kiếm được lưu truyền trong dòng họ và các địa danh liên quan tạo thành một không gian ký ức gắn với vương quyền Panduranga thế kỷ XVI.

Các bài viết của Ja Karo trên Champaka.info năm 2012 bổ sung một lớp tư liệu về đời sống xã hội, không gian văn hóa và những tranh luận liên quan đến di sản tại Phan Hòa. Khi đặt cạnh biên niên sử Panduranga, tư liệu cộng đồng và các chứng tích vật chất, nhóm tư liệu này mở rộng nghiên cứu về Po At từ lịch sử một vị vua sang lịch sử ký ức và không gian văn hóa của cộng đồng Panduranga.

Kết luận

Po At trị vì Panduranga từ năm 1553 đến năm 1579, là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak. Các tư liệu Panduranga ghi nhận ông theo Islam, với tên Islam được truyền lại là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim. Triều đại của ông thuộc giai đoạn vương quyền Panduranga tiếp tục được duy trì ở phía nam sau biến cố Vijaya năm 1471, đồng thời phát triển quan hệ với không gian Melayu-Islam.

Triều đại Po At cũng nằm trong thời kỳ Panduranga tiếp tục duy trì hoạt động quân sự ở vùng phía bắc. Sự kiện năm 1578 tại Phú Yên cho thấy Panduranga vẫn có khả năng tổ chức lực lượng và tham gia vào những biến động quân sự trong khu vực.

Ký ức về Po At tiếp tục được bảo tồn tại Phan Hòa qua đền tưởng niệm, patau nisan, địa danh, truyền thống dòng họ, cây kiếm được lưu truyền, ký ức về Bia Kati và truyền thống về Cei Sak Malaow.

Các tư liệu về Po At không đồng nhất về niên đại, nguồn gốc và giá trị chứng minh. Biên niên sử, tư liệu truyền thống, ký ức dòng họ, địa danh, hiện vật và các địa điểm tưởng niệm, khi được đối chiếu theo từng nguồn, tạo thành một hệ thống tư liệu quan trọng để nghiên cứu Po At, vương triều Po Mahosarak và quá trình duy trì ký ức lịch sử Panduranga tại Phan Hòa.

Hình 19. Đoàn tham quan Thành Tín có Po Gru đến thăm đền Po At; hình ảnh trong bài gốc ghi nhận đoàn dừng chân tại nhà Thầy Tiền. Ảnh: Putra Podam.

Hình 20. Đoàn tham quan Thành Tín có Po Gru; đoàn không vào bên trong đền do tại cổng đền có đặt tượng Shiva. Ảnh: Putra Podam.


Links: Bài viết liên quan

Hãy trả tự do cho vua Patao At

Link: https://champa.one/article/652