#

Hồi giáo (tiếng Ả Rập: Islam), mang nghĩa “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế”, là một tôn giáo Độc Thần do Muhammad sáng lập, nhưng đức tin của Islam thì bắt nguồn từ trước khi Allah tạo ra Adam. “Hồi” ở đây có nghĩa là “Hồi lại”, “Hoàn lại”, “Về lại nguyên thủy”, ngược lại dòng thời gian từ thời Muhamamad đến thời kỳ nguyên thủy ban đầu, nghĩa là từ Rasul cuối cùng Muhammad ngược lại đến nabi Jesus, kế tiếp là nabi Musa, kế tiếp là nabi Ibraham, rồi đến thời kỳ nguyên thủy là nabi Adam. Hồi ở đây nghĩa là hồi lại trạng thái ban đầu và thực hiện đúng đắn cho một tôn giáo độc thần mà Allah đã chỉ định. "Subhanahu Wa Ta'ala" có nghĩa: “Vinh Quang Thượng Đế, Đấng Quyền Lực Tối cao”. Đồng thời tín đồ Hồi giáo phải hoàn thiện theo lời dạy của Thiên kinh Koran và cố gắng giữ Ngũ trụ.

#

Agama Awal là một hệ phái mới xuất hiện ở Champa do ảnh hưởng văn hóa bản địa, là một tôn giáo độc thần, chỉ tôn thờ Thượng đế Allah, Đấng Tối Cao, Duy Nhất và tôn kính Muhammad là vị Thiên sứ (Nabi) cuối cùng được Allah mặc khải Thiên kinh Koran. Awal (Hồi giáo sơ khai, Hồi giáo cũ, Hồi giáo từ khi du nhập vào Champa) ảnh hưởng từ dòng Sunni. Awal là một hệ phái thuộc Hồi giáo Champa (Islam Awal của Champa), khác với trên 73 nhánh Islam trên thế giới như: Islam Sunni của Ả Rập, Islam Shia của Iran, Islam Ahmadi (Ahmadiyya) của Pakistan, Islam Kharijite của Oman, Islam Sufi của Libya, Sudan, Islam Wahabi, …Islam Champa dòng Awal được chia thành hai tầng lớp: Tầng lớp thứ nhất, là Giáo sĩ (Acar hay Ulama): trực tiếp thờ phượng Allah, Đấng Tối cao, Duy nhất và phục tùng Muhammad là Thiên sứ cuối cùng. Nhiệm vụ của giáo sĩ (Acar) là trau dồi chương kinh Koran, kiêng cử, hành lễ trong tháng Ramadan (Ramawan), Eid al-Adha (Waha), … và thực hiện các nghi lễ liên quan đến vòng đời của người Chăm theo Bani (Chăm theo đạo). Tầng lớp thứ hai, là Thường dân (Gahéh): chỉ phục vụ và phục tùng cho giáo sĩ (Acar) và gián tiếp thờ phượng Allah. Nhưng lớp tín đồ Thường dân (tầng lớp thứ hai) nếu trang bị đầy đủ kiến thức và Thiên kinh Koran thì cũng có thể trở thành giáo sĩ (Acar) để trực tiếp thờ phượng Allah.

#

Khi bệnh nhân hấp hối, gia đình thường gọi người thân hoặc những người hiểu biết chuyện đến canh trực và cầu nguyện cho người bệnh ra đi một cách thanh thản. Khi người bệnh nhắm mắt mà có người thân bên cạnh gọi là “chết tốt” hay “chết bình thường” vì được chết tại nhà, chết có người thân hay chết còn nguyên vẹn. “Chết không bình thường” hay “chết xấu” thường là chết trận, chết thi thể không còn nguyên vẹn, hay chết không người thân bên cạnh (matai bhaw), … Căn cứ vào thi thể chết tốt, chết xấu, thì giáo sĩ (Acar) thực hiện những nghi lễ cũng khác nhau. Đồng thời cũng căn cứ vào tuổi tác phân ra thành hai loại tang lễ. Loại “padhi kamar” hay “padhi manuis asit” chỉ dành cho chết trẻ (tức chết chưa đến tuổi kareh, katal), ngược lại là là tang lễ người lớn (padhi praong).

#

Chế Bồng Nga (1360- 23/1/1390), Jaya R'Cam B'nga (Zainal Abidin là vị vua Hồi giáo) theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trong tài liệu Trung Hoa ngài có tên: Ngo-ta-Ngo-che là tên hiệu của vua thứ ba thuộc vương triều thứ 12 Vijaya. Chế Bồng Nga là con trai út của vua Chế A Nan (Jaya Ananda). Sau khi Chế A Nan qua đời, con rể là Trà Hòa (Maha Sawa) giành được ngôi vua. Sau khi vua Trà Hòa mất, Chế Bồng Nga được quần thần tôn làm kế vương. Kế nhiệm là La Ngai (Jaya Simhavarman VI). Nhà Hán học người Pháp Georges Maspero trong cuốn La royaume de Champa (Vương quốc Champa) đã cho hay giai đoạn 1360-1390 dưới triều Chế Bồng Nga là giai đoạn cực thịnh trong lịch sử Champa. Các sử gia người Việt như Ngô Sĩ Liên cũng phải thừa nhận tài năng của Chế Bồng Nga là một vị vua kiệt xuất, có tài võ bị, trong thời gian cầm quyền đã đe dọa sự tồn vong của Đại Việt, bốn lần tiến vào Thăng Long và ông đã chấn hưng nhà nước Champa từ quốc gia suy đồi trở nên hùng mạnh. Chế Bồng Nga bị tử trận, chấm dứt một trang hùng sử. Trong vòng 30 năm, Chế Bồng Nga đã khôi phục những vùng đã mất từ hơn 300 năm trước đó (Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh bị mất năm 1069; châu Ô, châu Rí năm 1306).

#

Thứ Sáu tiếng Ả Rập (Arabic) là جمعة (Jamu’ah), Malaysia phiên âm (Jumaat), tiếng Hindi là (Srukra) mà người Chăm phiên âm thành (Suk). Thứ Sáu người Chăm có hai cách dùng “Jumaat” hoặc “Suk”. Đối với hệ phái Agama Awal (Hồi giáo sơ khai) có thực hiện một số loại Suk như sau: a). Suk Amharam (Muharam): là Suk được tổ chức vào tháng 1 (Hồi lịch) hay còn gọi là Suk đầu năm (Hồi lịch). Đây là Suk dành cho các Sư cả (Gru) của các Haluw ở Bình Thuận gặp nhau để bàn bạc về giáo lý, giáo luật (adat cambat), ngày tháng hay thông tin quan trọng trong năm của hệ phái Awal (Hồi giáo). Suk Amharam thì Imam 40 (Imam cựu) được phép lên thuyết giáo (Khutbah) và đọc Agal: Halkal (Surah: Halkal). Bình Thuận, Haluw nào có Gru Iw (Tổng Sư cả) thì Suk Amharam được tổ chức tại làng đó và các Gru ở các Haluw khác đến tham dự. Ngoài ra còn có Gru Hanuk (Phó tổng Sư cả). Năm 2022, Haluw Aia Mamih (Bình Minh) được tổ chức Suk Amharam vì Sư cả Lư Thanh làm Gru Iw (Tổng Sư cả). Xưa kia, mỗi dịp Suk Amharam, các Haluw Janang bên Ahier đến tham dự để bàn bạc co giãn lịch pháp Sakawi Chăm sao cho phù hợp đôi bên Awal-Ahier. Suk Amharam thời nay không thấy Haluw Janang bên Ahier đến tham dự, mà tổ chức bàn bạc lịch pháp giữa Awal-Ahier vào một ngày tự chọn trong năm.

#

Thôn Bình Minh là tên gọi từ sau 1975 (Chế độ Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa), mà trước đó tên gọi Ấp Minh Mỵ (trước 1975, thời Việt Nam Cộng Hòa). Tên gọi "Minh Mỵ" phiên âm từ tiếng Chăm "Mamhih". Aia Mamih (tiếng Việt: nước có vị ngọt). Bởi nơi đây là một động cát có mạch nước ngầm (Aia Caol) mà người dân nơi đây khơi tạo thành giếng nước để dùng chung còn gọi Bến nước của dân làng. Người dân "Aia Mamih" không biết cha ông đã tồn tại trên mãnh đất này có từ bao giờ, mà chỉ biết trên mãnh đất này đã từng tồn tại có 3 làng Chăm duy nhất đó là: 1. Palei Gahur Ngaok (Plei Ghur Ngaok - Xóm Động trên): đây là nơi cư ngụ tập trung của người dân, trong đó có dòng họ ông Chủ Minh (chủ làng), ông Ức Chiến Thể, Ức Chiến Thắng, bà Nện, bà Kiên,..., Hiện nay các nền móng nhà của các hộ đã từng sống ở đây vẫn còn lưu lại là chứng cứ rõ ràng khẳng định đây là vùng đất của làng người Chăm xưa, và những dòng họ này hiện nay đang sinh sống ở thôn Bình Minh, xã Phan Hòa. 2. Palei Gahur Yok (Plei Ghur Yok - Xóm Động dưới): đây là làng tập trung dân Chăm trong đó có dòng họ ông Hai, bà Tô, bà Khoy Chek, bà Tòa, bà Tỉnh, bà Thi,..., những dòng họ này hiện đang sinh sống tại thôn Bình Minh, xã Phan Hòa. 3) Palei Tanah Ala (Plei Tanâh Ala - Xóm dưới): làng Tanah Ala thuộc dòng họ ông Imam Sỷ, bà Cò, bà Mái, bà Phụng, bà An, bà Thản, bà Khiểm, bà Khảm, thuộc dòng họ của Ts.Putra Podam,... hiện nay dòng họ này đang sinh sống tại thôn Bình Minh, xã Phan Hòa.

#

Nhân dịp Kate (Kartik: Hindu) đang đến gần, không khí lễ hội Kate náo nhiệt khắp các làng Chăm Ahier Ninh Thuận và Bình Thuận (Panduranga). Tín đồ Chăm Ahier đi làm xa quê đang tính từng ngày để về tụ họp sum vầy cùng gia đình, các chàng trai cô gái và bao trai tài, gái sắc đang đua nhau làm đẹp, mua trang sức, rủ nhau may áo truyền thống tại quầy Phương Anh shop, cơ hội trong năm để gặp gỡ trao duyên,… các học sinh, sinh viên mong được chính quyền tỉnh nhà  quan tâm được cho nghĩ Kate 3 ngày để về tề tựu cùng với cha mẹ, ông bà, dòng họ và tổ tiên, …

#

Nhằm góp ý giải quyết vấn đề: Cái gọi là tôn giáo Bani, mà một số đối tượng chủ trương là những người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, kết hợp với đối tượng nước ngoài nhằm gây nhiễu thông tin, xáo trộn và bức xúc trong cộng đồng Chăm theo Bani (Chăm theo đạo Hồi giáo) gần hai năm nay. Để giải quyết dứt điểm, tôi xin góp ý vài nội dung sẽ giúp ích cho cộng đồng Chăm Bani (Chăm theo đạo).

#

- Theo Po Dharma, Chế Bồng Nga (Che Bunga) là người gốc Vijaya, cụm từ phiên âm từ Phạn ngữ = Sri + Varman, danh xưng này thiếu một tiền tố, do đó người ta không đoán được ngài tên là Sri Inravarman? Hay Sri Jayavarman? lên ngôi vua từ năm 1360 đến1390. Sau ngay từ trần của Chế Bồng Nga vào năm 1390, thì tướng La Ngai là người nối ngôi vua Champa đóng đô ở Vijaya. - Ngược lại, Po Binnasuer (Po Binthuar) là người gốc làng Aia Radak, Panduranga có bà hoàng hậu tên là Bia Soy. Ðền của Po Binnasuar và Bia Soy vẫn còn ở làng Bal Riya (Bính Nghĩa)-Ninh Thuận. Po Binnasuar lên ngôi từ năm 1316 đến 1361 hay 1328-1373 tùy theo dị bản. Sau ngày từ trần của Po Binnsuer, thì Po Parican là người nối ngôi ở Panduranga năm 1361 hay 1373.

#

Sau thế kỷ XV, Panduranga trưng dụng tháp này để thờ thần linh quan trọng đó là vua huyền sử Po Klaong Garay. Chế Mân đã có chính thất là Vương hậu Champa và có con trai là Chế Đa Da, sau này kế vị Chế Mân. Ngoài ra, quốc vương còn liên kết chính trị với vương quốc Majapahit (Java, Indonesia ngày nay) bằng cách kết hôn với công chúa Tapasi để làm thứ hậu. Hết đương đầu với quân Mông Cổ của Koubilai, ngài chủ trương tiếp tục bang giao với Đại Việt. Nhân dịp viếng thăm Champa vào năm 1301, thượng hoàng Trần Nhân Tôn hứa gả công chúa Huyền Trân (tức là em gái của vua Trần Anh Tôn) cho vua Chế Mân. Từ đó các nhà nghiên cứu cho rằng Islam (Hồi giáo) đã có mặt trong hoàng gia Champa từ thế kỷ XIII (Maspero, 1928, p.13; Lương Ninh, 2004, p.100-101).