Chế Bồng Nga (1360- 23/1/1390), Jaya R'Cam B'nga (Zainal Abidin là vị vua Hồi giáo) theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trong tài liệu Trung Hoa ngài có tên: Ngo-ta-Ngo-che là tên hiệu của vua thứ ba thuộc vương triều thứ 12 Vijaya. Chế Bồng Nga là con trai út của vua Chế A Nan (Jaya Ananda). Sau khi Chế A Nan qua đời, con rể là Trà Hòa (Maha Sawa) giành được ngôi vua. Sau khi vua Trà Hòa mất, Chế Bồng Nga được quần thần tôn làm kế vương. Kế nhiệm là La Ngai (Jaya Simhavarman VI). Nhà Hán học người Pháp Georges Maspero trong cuốn La royaume de Champa (Vương quốc Champa) đã cho hay giai đoạn 1360-1390 dưới triều Chế Bồng Nga là giai đoạn cực thịnh trong lịch sử Champa. Các sử gia người Việt như Ngô Sĩ Liên cũng phải thừa nhận tài năng của Chế Bồng Nga là một vị vua kiệt xuất, có tài võ bị, trong thời gian cầm quyền đã đe dọa sự tồn vong của Đại Việt, bốn lần tiến vào Thăng Long và ông đã chấn hưng nhà nước Champa từ quốc gia suy đồi trở nên hùng mạnh. Chế Bồng Nga bị tử trận, chấm dứt một trang hùng sử. Trong vòng 30 năm, Chế Bồng Nga đã khôi phục những vùng đã mất từ hơn 300 năm trước đó (Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh bị mất năm 1069; châu Ô, châu Rí năm 1306). |
Thứ Sáu tiếng Ả Rập (Arabic) là جمعة (Jamu’ah), Malaysia phiên âm (Jumaat), tiếng Hindi là (Srukra) mà người Chăm phiên âm thành (Suk). Thứ Sáu người Chăm có hai cách dùng “Jumaat” hoặc “Suk”. Đối với hệ phái Agama Awal (Hồi giáo sơ khai) có thực hiện một số loại Suk như sau: a). Suk Amharam (Muharam): là Suk được tổ chức vào tháng 1 (Hồi lịch) hay còn gọi là Suk đầu năm (Hồi lịch). Đây là Suk dành cho các Sư cả (Gru) của các Haluw ở Bình Thuận gặp nhau để bàn bạc về giáo lý, giáo luật (adat cambat), ngày tháng hay thông tin quan trọng trong năm của hệ phái Awal (Hồi giáo). Suk Amharam thì Imam 40 (Imam cựu) được phép lên thuyết giáo (Khutbah) và đọc Agal: Halkal (Surah: Halkal). Bình Thuận, Haluw nào có Gru Iw (Tổng Sư cả) thì Suk Amharam được tổ chức tại làng đó và các Gru ở các Haluw khác đến tham dự. Ngoài ra còn có Gru Hanuk (Phó tổng Sư cả). Năm 2022, Haluw Aia Mamih (Bình Minh) được tổ chức Suk Amharam vì Sư cả Lư Thanh làm Gru Iw (Tổng Sư cả). Xưa kia, mỗi dịp Suk Amharam, các Haluw Janang bên Ahier đến tham dự để bàn bạc co giãn lịch pháp Sakawi Chăm sao cho phù hợp đôi bên Awal-Ahier. Suk Amharam thời nay không thấy Haluw Janang bên Ahier đến tham dự, mà tổ chức bàn bạc lịch pháp giữa Awal-Ahier vào một ngày tự chọn trong năm. |
Thôn Bình Minh là tên gọi từ sau 1975 (Chế độ Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa), mà trước đó tên gọi Ấp Minh Mỵ (trước 1975, thời Việt Nam Cộng Hòa). Tên gọi "Minh Mỵ" phiên âm từ tiếng Chăm "Mamhih". Aia Mamih (tiếng Việt: nước có vị ngọt). Bởi nơi đây là một động cát có mạch nước ngầm (Aia Caol) mà người dân nơi đây khơi tạo thành giếng nước để dùng chung còn gọi Bến nước của dân làng. Người dân "Aia Mamih" không biết cha ông đã tồn tại trên mãnh đất này có từ bao giờ, mà chỉ biết trên mãnh đất này đã từng tồn tại có 3 làng Chăm duy nhất đó là: 1. Palei Gahur Ngaok (Plei Ghur Ngaok - Xóm Động trên): đây là nơi cư ngụ tập trung của người dân, trong đó có dòng họ ông Chủ Minh (chủ làng), ông Ức Chiến Thể, Ức Chiến Thắng, bà Nện, bà Kiên,..., Hiện nay các nền móng nhà của các hộ đã từng sống ở đây vẫn còn lưu lại là chứng cứ rõ ràng khẳng định đây là vùng đất của làng người Chăm xưa, và những dòng họ này hiện nay đang sinh sống ở thôn Bình Minh, xã Phan Hòa. 2. Palei Gahur Yok (Plei Ghur Yok - Xóm Động dưới): đây là làng tập trung dân Chăm trong đó có dòng họ ông Hai, bà Tô, bà Khoy Chek, bà Tòa, bà Tỉnh, bà Thi,..., những dòng họ này hiện đang sinh sống tại thôn Bình Minh, xã Phan Hòa. 3) Palei Tanah Ala (Plei Tanâh Ala - Xóm dưới): làng Tanah Ala thuộc dòng họ ông Imam Sỷ, bà Cò, bà Mái, bà Phụng, bà An, bà Thản, bà Khiểm, bà Khảm, thuộc dòng họ của Ts.Putra Podam,... hiện nay dòng họ này đang sinh sống tại thôn Bình Minh, xã Phan Hòa. |
Nhân dịp Kate (Kartik: Hindu) đang đến gần, không khí lễ hội Kate náo nhiệt khắp các làng Chăm Ahier Ninh Thuận và Bình Thuận (Panduranga). Tín đồ Chăm Ahier đi làm xa quê đang tính từng ngày để về tụ họp sum vầy cùng gia đình, các chàng trai cô gái và bao trai tài, gái sắc đang đua nhau làm đẹp, mua trang sức, rủ nhau may áo truyền thống tại quầy Phương Anh shop, cơ hội trong năm để gặp gỡ trao duyên,… các học sinh, sinh viên mong được chính quyền tỉnh nhà quan tâm được cho nghĩ Kate 3 ngày để về tề tựu cùng với cha mẹ, ông bà, dòng họ và tổ tiên, … |
Nhằm góp ý giải quyết vấn đề: Cái gọi là tôn giáo Bani, mà một số đối tượng chủ trương là những người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, kết hợp với đối tượng nước ngoài nhằm gây nhiễu thông tin, xáo trộn và bức xúc trong cộng đồng Chăm theo Bani (Chăm theo đạo Hồi giáo) gần hai năm nay. Để giải quyết dứt điểm, tôi xin góp ý vài nội dung sẽ giúp ích cho cộng đồng Chăm Bani (Chăm theo đạo). |
- Theo Po Dharma, Chế Bồng Nga (Che Bunga) là người gốc Vijaya, cụm từ phiên âm từ Phạn ngữ = Sri + Varman, danh xưng này thiếu một tiền tố, do đó người ta không đoán được ngài tên là Sri Inravarman? Hay Sri Jayavarman? lên ngôi vua từ năm 1360 đến1390. Sau ngay từ trần của Chế Bồng Nga vào năm 1390, thì tướng La Ngai là người nối ngôi vua Champa đóng đô ở Vijaya. - Ngược lại, Po Binnasuer (Po Binthuar) là người gốc làng Aia Radak, Panduranga có bà hoàng hậu tên là Bia Soy. Ðền của Po Binnasuar và Bia Soy vẫn còn ở làng Bal Riya (Bính Nghĩa)-Ninh Thuận. Po Binnasuar lên ngôi từ năm 1316 đến 1361 hay 1328-1373 tùy theo dị bản. Sau ngày từ trần của Po Binnsuer, thì Po Parican là người nối ngôi ở Panduranga năm 1361 hay 1373. |
Sau thế kỷ XV, Panduranga trưng dụng tháp này để thờ thần linh quan trọng đó là vua huyền sử Po Klaong Garay. Chế Mân đã có chính thất là Vương hậu Champa và có con trai là Chế Đa Da, sau này kế vị Chế Mân. Ngoài ra, quốc vương còn liên kết chính trị với vương quốc Majapahit (Java, Indonesia ngày nay) bằng cách kết hôn với công chúa Tapasi để làm thứ hậu. Hết đương đầu với quân Mông Cổ của Koubilai, ngài chủ trương tiếp tục bang giao với Đại Việt. Nhân dịp viếng thăm Champa vào năm 1301, thượng hoàng Trần Nhân Tôn hứa gả công chúa Huyền Trân (tức là em gái của vua Trần Anh Tôn) cho vua Chế Mân. Từ đó các nhà nghiên cứu cho rằng Islam (Hồi giáo) đã có mặt trong hoàng gia Champa từ thế kỷ XIII (Maspero, 1928, p.13; Lương Ninh, 2004, p.100-101). |
Xét về thời điểm phát biểu vào giữa cuối năm 2021 lúc xã hội Chăm, các anh hùng Núp đang xuyên tạc về Bani, Awal và Islam, thì phát biểu trên rõ ràng theo phe cánh tả để kích động tôn giáo trong xã hội Chăm. Phát biểu trên để mua lòng cánh tả xhnv. Khi bài viết được đăng thì được phe tà giáo ủng hộ, hoan nghênh để tăng sĩ khí cho anh hùng Núp, lôi kéo Phụ nữ thất học, chống Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bani, một tổ chức duy nhất của người Chăm được Chính phủ Cộng sản thành lập. So sánh sự giống nhau và khác nhau của hai hệ phái Bani và Islam là một so sánh khập khiểng, vì trên thế giới có trên 73 hệ phái khác nhau theo Islam. Thậm chí hiện nay rất nhiều Muslim tại Ả Rập sống trong tệ nạn xã hội, trai gái, đĩ điếm, rựu chè, cờ bạc, cướp bóc, giết người, …. Tín đồ, Islam Ả Rập, Islam Iran, Islam Irak, Islam Pakistan, Islam Indonesia, Malaysia và Islam Champa là hoàn toàn khác nhau. Đừng bắt Islam Champa đi theo Islam Ả Rập, vì mỗi dân tộc có một văn hóa riêng. |
Hồi giáo (Islam) đã du nhập vào Champa từ khoảng cuối thế kỷ thứ IX theo con đường tơ lụa và phát triển tùy thuộc từng thời kỳ lịch sử của từng triều đại vua chúa Champa. Đặc biệt khởi sắc từ quốc vương Chế Mân, vị vua ảnh hưởng Hồi giáo khi bang giao với thế giới Melayu, và kết hôn với công chúa Tapasi Majapahit Indonesia. Cũng như vua Chế Bồng Nga, là một vị vua Hồi giáo, khi lên ngôi vua lấy niên hiệu là Sultan Zainal Abidin và cưới công chúa Siti Zubaidah Kelantan-Malaysia, từ đây Ngài đã chấn hưng nhà nước Champa từ một quốc gia suy đồi trở nên hùng mạnh. Đặc biệt, Ngài Sunan Ampel, được vua Champa phái sang đảo Jawa truyền bá Islam và cải đạo cho các tín đồ Hindu. Tiếp theo vua Bố Trì trì, lấy niên hiệu Sultan Wan Abu Abdullah là vị vua Hồi giáo trong danh sách gia phả tại Kelantan-Malaysia. Các giai đoạn sau này như vua Kabrah đến Malaysia và việc gả em gái là công chúa Po Sah Ina kết hôn với Po Haniim Per, người Hồi giáo gốc Malay. Po At, vị vua Hồi giáo đã từng gửi lực lượng 400 thuyền chiến Champa sang giúp Sultan xứ Johor để tấn công quân Bồ Đào Nha ở Melaka-Malaysia. Po Rome chính thức người có danh phận, là thành viên của dòng dõi vương triều theo Hồi giáo tại Malaysia, khi kết hôn với công chúa Hồi giáo, chính thức mang tên Thánh Nik Mustafa, tên đầy đủ là: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Và vua trị vì tiểu vương quốc Kelantan - Malaysia hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome. Tiếp nối cha ông, các vị như Cei Brei, Tuan Phaow, Katip Sumat, Katip Ja Thak Wa, Thiếu Tướng Les Kosem, Ts.Putra Podam, Ts.Basiron… tín đồ Chăm Bani Islam, Bani Awal ở Kampuchia, Champa và Việt Nam ngày nay tiếp tục gìn giữ mối quan hệ mật thiết giữa Champa và Malaysia nói riêng, giữa Champa với thế giới Malayu và thế giới Hồi giáo nói chung. |
Thế kỷ XXI, nhiều sinh viên Chăm sang du học tại các quốc gia thuộc Ả Rập, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei, Thái Lan, Campuchia, …trong đó có Ts. Putra Podam và Ts. Basiron tốt nghiệp tại Malaysia. Ngày nay, Champa và Hồi giáo (Islam) vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với thế giới Melayu, thế giới Ả Rập nói riêng và thế giới Hồi giáo (Islam) nói chung. |