Po At (1553-1579) - vị vua cuối cùng của triều đại Po Mahosarak

Author: Putra Podam
In category Research
Oct 6, 2026, 10:52 PM Print

Po At, còn gọi là Po Patao At, trị vì Panduranga từ năm 1553 đến 1579, kế vị Po Kunarai và là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak. Sakkarai Dak Rai Patao, biên niên sử Panduranga bằng tiếng Cham, ghi Po At là cháu của Po Kunarai và trị vì 27 năm. Các sử liệu về Panduranga ghi nhận ông theo Islam. Trong sử liệu Hán-Việt, ông được ghi là Bà Ất. Theo  Ts. Putra Podam và một số tư liệu ghi tên Islam của ông là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim.

Triều đại: V - Po Mahosarak

Quốc hiệu: Champa - Panduranga

Tên chính: Po At

Tên Sanskrit: Chưa xác định

Tên trong sử liệu: Po At; Po Patao At

Tên Hán-Việt: Bà Ất

Tên Islam: Tư liệu của Ts. Putra Podam và một số tư liệu ghi là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim

Thời gian trị vì: 1553-1579

Hoàng tộc: Cháu của Po Kunarai; thuộc vương triều Po Mahosarak

Hoàng hậu: Bia Kati

Hoàng tử: Cei Sak Malaow

Người tiền nhiệm: Po Kunarai

Người kế nhiệm: Po Klong Halau

Trung tâm quyền lực: Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng); về sau gắn với Parik (Phan Rí)

Kinh đô: Biuh Bal Batsinâng; Parik (Phan Rí)

Tôn giáo: Islam theo sử liệu về Panduranga

Danh hiệu: Po; Patao

Cộng đồng lịch sử và ngôn ngữ: Chamic (Cham cổ)


Nguồn sử liệu

Sử liệu nền tảng về Po At là Sakkarai Dak Rai Patao, biên niên sử Panduranga ghi lại chuỗi các vị vua, quan hệ kế vị và các trung tâm quyền lực. Bên cạnh đó là các tư liệu cộng đồng được bảo tồn tại Panduranga, trong đó có những ghi chép của Ts. Putra Podam về Po At, Palei Panet và truyền thống tại Phan Hòa.

Các nghiên cứu về quan hệ Champa-Melayu, đặc biệt của Pierre-Yves Manguin, P. B. Lafont và Danny Wong Tze-Ken, cung cấp thêm tư liệu về quan hệ giữa Champa với thế giới Melayu-Islam.

Ba bài viết của Ja Karo đăng trên Champaka.info năm 2012 về Đàn Tiên Nông tại Phan Hòa phản ánh các địa điểm lịch sử và không gian văn hóa tại Phan Hòa. Các bài viết của Ja Karo ghi nhận cư dân địa phương là hậu duệ, đồng thời là những người bảo tồn các chứng cứ và ký ức liên quan đến triều đại Po At.


Xuất thân và lên ngôi

Po At kế vị Po Kunarai năm 1553. Theo Sakkarai Dak Rai Patao, ông là cháu của Po Kunarai và trị vì 27 năm, đến năm 1579. Po At là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak. Sau khi ông kết thúc triều đại, Po Klong Halau kế vị.

Triều đại Po At thuộc giai đoạn Panduranga tiếp tục duy trì vương quyền ở phía nam sau biến cố Vijaya năm 1471. Trung tâm quyền lực gắn với Biuh Bal Batsinâng, còn gọi là Hamu Linâng. Tư liệu về Po At còn ghi nhận nhà vua có dinh riêng bên ngoài khu vực này. Về sau, Parik (Phan Rí) trở thành một trung tâm quan trọng của Panduranga.

Hình 1. Po At (1553-1579), vị vua Panduranga trị vì từ năm 1553 đến 1579. Po At, còn gọi là Po Patao At, Hán-Việt Bà Ất, thuộc Triều đại V - Po Mahosarak. Theo truyền thống sử liệu Panduranga, ông là cháu của Po Kunarai và kế vị năm 1553. Trung tâm quyền lực của ông đặt tại Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng), về sau gắn với Parik (Phan Rí). Các tư liệu của Panduranga và truyền thống Chamic-Islam ghi nhận Po At thuộc vương quyền Islam. Theo Ts. Putra Podam tên Islam của Po At là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim. Triều đại Po At gắn với sự phát triển của quan hệ giữa Panduranga với các mạng lưới Melayu-Islam, đặc biệt là Johor. Hình ảnh Po At với trang phục hoàng gia mang họa tiết dệt truyền thống Chamic, khăn đội đầu, kiếm và không gian kiến trúc Champa ven biển, hình tượng một vị vua Panduranga trong bối cảnh thế kỷ XVI. Ảnh: Putra Podam.


Vương quyền tại Biuh Bal Batsinâng

Biuh Bal Batsinâng là một trung tâm quyền lực của Panduranga dưới thời Po At. Tư liệu truyền thống ghi việc nhà vua xây dinh riêng bên ngoài khu vực Biuh Bal Batsinâng. Parik (Phan Rí) giữ vai trò quan trọng trong không gian chính trị Panduranga, vốn được duy trì qua nhiều địa điểm trong vùng lãnh thổ. Các trung tâm quyền lực này gắn với nơi cư trú của hoàng gia, hoạt động quản lý và đời sống chính trị của vương quyền Panduranga.

Hình 2. Bản đồ Champa-Panduranga năm 1553 dưới thời Po At (Po Patao At, 1553-1579), thể hiện các không gian chính gồm Vijaya, Kauthara, Panduranga và Cao nguyên Champa (Nam Bàn), cùng các vùng tiếp giáp Đại Việt, Ai Lao và Chân Lạp. Bản đồ về vị trí các trung tâm quyền lực, địa danh quan trọng, đường biên giới ước đoán và không gian biển Laut Champa.


Tên gọi Po At và danh xưng Islam

Tên Po At xuất hiện trong sử liệu về Panduranga dưới dạng Po At hoặc Po Patao At. Trong sử liệu Hán-Việt, ông được ghi là Bà Ất.

Theo Ts. Putra Podam và một số tư liệu ghi tên Islam của Po At là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim. Đây là danh xưng Islam gắn với vương quyền Panduranga trong thế kỷ XVI. Cộng đồng Cham Awal tại Phan Hòa tôn kính ông là một vị vua Islam.


Tôn giáo

Các tư liệu về Panduranga ghi nhận Po At theo Islam. Tên Islam được truyền lại của nhà vua gắn với sự hiện diện của Islam trong tầng lớp vương quyền Panduranga vào thế kỷ XVI.

Sự hiện diện của Islam trong vương quyền Panduranga gắn với mạng lưới quan hệ rộng hơn giữa Panduranga và thế giới Melayu-Islam. Quá trình diễn ra trong thời gian dài và không đồng nhất với tình trạng tôn giáo của toàn bộ xã hội Panduranga trong cùng thời kỳ.


Panduranga và thế giới Melayu-Islam

Thế kỷ XVI là giai đoạn Panduranga duy trì quan hệ với thế giới Melayu-Islam ở Đông Nam Á. Các mạng lưới hàng hải nối Champa với bán đảo Mã Lai, Melaka, Johor và những trung tâm thương mại trong khu vực tạo điều kiện cho giao lưu hàng hóa, ngoại giao, quân sự và tôn giáo.

Các nghiên cứu của Pierre-Yves Manguin, P. B. Lafont và Danny Wong Tze-Ken cho thấy quan hệ Champa-Melayu không chỉ giới hạn ở thương mại mà còn bao gồm những liên hệ chính trị, quân sự và tôn giáo.


Quan hệ với Johor

Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, Po At tại Panduranga có quan hệ với Johor. Tư liệu ghi nhận nhà vua nhận được một bức thư viết bằng Jawi, gắn với các nhân vật Waraqah, Sultan Mahmud Shah và tướng Shalahuddin. Lực lượng Champa được kể gồm khoảng 400 chiến thuyền xuất phát từ vùng Canah, tức Cà Ná.

Hình 3. Sultan Mahmud Shah, vua Johor, trong quan hệ ngoại giao và quân sự giữa Johor và Champa dưới thời Po Patao At. Ảnh: Sưu tầm.

Các chi tiết về Waraqah, bức thư Jawi, Sultan Mahmud Shah, tướng Shalahuddin và khoảng 400 chiến thuyền được ghi nhận trong truyền thống Melayu-Champa về Po At, phản ánh ký ức về quan hệ quân sự giữa Panduranga và Johor.

Một số sử liệu cũng ghi nhận rằng năm 1594, một vị vua Champa đã đưa lực lượng quân sự hỗ trợ phía Melaka-Johor trong cuộc đối đầu với người Bồ Đào Nha tại Melaka. Sự kiện này xảy ra sau khi Po At kết thúc triều đại năm 1579. Tư liệu năm 1594 cho thấy quan hệ giữa Champa và thế giới Melayu-Johor vẫn được duy trì trong những thập niên sau triều đại của ông.

Hình 4. Sultan Mahmud Shah, vua Johor, ra trận cùng lực lượng chống Bồ Đào Nha tại Melaka. Ảnh: Sưu tầm.


Quan hệ với Đại Việt

Sau biến cố Vijaya năm 1471, trung tâm chính trị của Champa dịch chuyển về phía nam. Panduranga tiếp tục duy trì quan hệ với Đại Việt trong một không gian chính trị mới.

Từ năm 1570, trong quá trình nam tiến, Nguyễn Hoàng trực tiếp quản lý Thuận Hóa và Quảng Nam, đưa phạm vi kiểm soát của họ Nguyễn tiến gần hơn đến Panduranga.

Năm 1578, Champa có hoạt động quân sự tại khu vực Phú Yên. Các nguồn Việt Nam ghi việc Lương Văn Chánh đánh Thành Hồ. Sự kiện này nằm trong chuỗi quan hệ quân sự và lãnh thổ giữa Panduranga và chính quyền Đại Việt ở phía bắc.

Những diễn biến vào cuối triều Po At cho thấy Panduranga vẫn duy trì hoạt động quân sự và vị thế chủ động trong quan hệ với các thế lực lân cận.


Islam hóa tại Panduranga

Po At trị vì trong giai đoạn Islam ngày càng hiện diện trong vương quyền Panduranga. Việc nhà vua được ghi nhận với tên Islam cho thấy danh xưng Islam đã trở thành một thành tố trong đời sống chính trị của hoàng gia.

Quá trình này gắn với mạng lưới quan hệ giữa Panduranga và thế giới Melayu-Islam. Trong các giai đoạn tiếp theo, cộng đồng Panduranga hình thành và phát triển các truyền thống Awal và Ahier trong đời sống tôn giáo.

Dưới thời Po Rome, cấu trúc Awal-Ahier được thể hiện rõ hơn trong đời sống tôn giáo Panduranga.


Po At và Palei Panet - Phan Hòa

Palei Panet, nay thuộc Phan Hòa, là một địa điểm quan trọng trong ký ức cộng đồng về Po Patao At. Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, cộng đồng tại đây bảo tồn truyền thống về Po At, lực lượng của nhà vua, quá trình khai phá đất đai và sự hình thành cộng đồng.

Phan Hòa là một không gian cư trú của cộng đồng Cham theo Agama Awal (Islam Awal còn gọi Hồi giáo sơ kỳ). Ký ức về Po Patao At được bảo tồn qua đền tưởng niệm, bia đá, địa danh, truyền thống dòng họ và những lời cầu nguyện nhắc đến Po At và vương hậu Bia Kati.

Đền Po Patao At trước đây ở Car Limaow, sau được chuyển đến Mbok Dhot vào năm 1989. Công trình mới được xây dựng trong giai đoạn 2016-2018 và khánh thành ngày 28 tháng 4 năm 2018. Bên trong có patau nisan, tức bia đá gắn với Po Patao At.

Đây là không gian tưởng niệm và ghi nhớ vị vua trong lịch sử cộng đồng, không phải nơi thờ phụng Po At như một thần linh.

Hình 5, 6. Chân kèn đền Po At (Po Patao At) tại Car Limaow, kề ruộng bà Tận, thuộc làng Hậu Quách cũ, phía sau Palei Panet (Bình Thắng, Phan Hòa, Bắc Bình, Bình Thuận), bên kia Rabaong Lah, cách trụ sở Ủy ban xã Phan Hòa khoảng 1 km về phía bắc. Ảnh: Adam Podam, ngày 10 tháng 2 năm 2021.

Hình 7. Adam Podam, người cung cấp hình ảnh trong bài viết. Ảnh chụp ngày 10 tháng 2 năm 2021.


Vương hậu Bia Kati và đất đai tưởng niệm

Bia Kati là hoàng hậu của Po At và được cộng đồng Panduranga bảo tồn trong hệ thống di tích, đất đai và không gian tưởng niệm tại Phan Hòa. Những địa điểm gắn với Po At và Bia Kati bao gồm ruộng đất, đền tưởng niệm và gò đất Po At được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Theo bài viết của Ja Karo, đền Bia Kati, vương hậu của Po At, nằm tại vùng động cát của người Cham xưa, nay thuộc khu vực đồi cát trong vườn cây Đào, xã Hòa Minh. Địa điểm này gắn với không gian lịch sử của Bia Kati và cộng đồng Cham tại Phan Hòa.

Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, trước năm 1975 cộng đồng còn quản lý một diện tích ruộng đất lớn gắn với Po At và Bia Kati. Sau những biến đổi về quản lý đất đai từ cuối thập niên 1970, phần lớn diện tích này không còn thuộc quyền sử dụng truyền thống của cộng đồng.

Hiện nay, khu đất khoảng 5 sào gắn với đền tưởng niệm Po At vẫn được cộng đồng quản lý và cho thuê để tạo nguồn kinh phí phục vụ việc bảo quản công trình.

Gò đất Po At nằm trong không gian lịch sử của cộng đồng Cham Awal tại Phan Hòa, thuộc khu vực bốn làng Cham Awal (Islam Awal). Việc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận công nhận gò đất Po At là di tích lịch sử gắn với người Việt để phục vụ mục đích xây dựng chùa của người Việt tại đây đặt ra vấn đề liên quan trực tiếp đến tính xác thực của di tích và quyền quản lý không gian văn hóa lịch sử của cộng đồng Cham Awal.

Hình 8. Đền Po At (Po Patao At), được xây dựng lại lần thứ ba tại Mbok Dhot, thôn Bình Thắng, xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, năm 1989. Ảnh tư liệu năm 1989: Putra Podam.

Khu vực này không có cộng đồng cư dân Việt sinh sống tại chỗ, trong khi gò đất Po At là địa điểm gắn với lịch sử và ký ức của cộng đồng Cham tại Phan Hòa. Việc xây dựng một công trình chùa của người Việt trên gò đất Po At có nguy cơ xâm hại không gian di tích và làm thay đổi cảnh quan lịch sử của địa điểm. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến đất đai, di tích và không gian văn hóa lịch sử của cộng đồng Cham Awal tại Phan Hòa.

Hình 9, 10. Bia đá (patau nisan) của Po Patao At tại đền xây dựng lại năm 1989. Bia đá vốn để lộ nguyên trạng, về sau được cộng đồng địa phương phủ vải đỏ trong truyền thống tưởng niệm Po At. Vua Po Patao At được các tư liệu Panduranga-Chamic ghi nhận là một vị vua Islam. Ảnh: Putra Podam.


Cây kiếm Po At và ký ức về Johor

Một cây kiếm có chữ Ả Rập được dòng họ Nguyễn Hữu Mẫn tại Palei Panet lưu giữ. Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, cây kiếm được truyền lại là quà tặng từ Johor dành cho Po Patao At, gắn với quan hệ Champa-Melayu. Niên đại, chất liệu, nội dung chữ Ả Rập và xuất xứ của hiện vật cần được tiếp tục xác minh qua nghiên cứu và giám định.

Hình 11. Dòng tộc ông Nguyễn Hữu Mẫn lưu giữ áo giáp (ao khik rup) và cây kiếm có khắc chữ Ả Rập, được truyền lại trong gia tộc là quà tặng từ Johor dành cho Po Patao At.


Cei Sak Malaow và Phun Kraik

Cei Sak Malaow được truyền thống địa phương ghi nhận là con trai của Po Patao At. Ở phía tây Palei Panet có khu vực gắn với một cây Lim cổ thụ được gọi là Phun Kraik, người địa phương phát âm là Phun Kran. Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, cây Lim này có tuổi đời trên 400 năm và gắn với ký ức về Cei Sak Malaow.

Theo truyền thống địa phương, Cei Sak Malaow được an táng tại khu vực này và hóa thân vào cây Lim thần. Đây là truyền thuyết được cộng đồng Palei Panet lưu truyền, phản ánh ký ức về hoàng tử Cei Sak Malaow trong không gian lịch sử của Po At.

Theo lời kể của ông Văn Ngọc Ánh (Abraham Podam), cha của Ts. Putra Podam, trước năm 1975, tại khu vực dưới gốc cây Phun Kraik có một đồn canh gác của lực lượng Việt Nam Cộng Hòa. Vào những đêm trăng sáng, những người lính làm nhiệm vụ canh gác tại đồn từng nhìn thấy một con trăn lớn xuất hiện quanh khu vực gốc cây. Theo truyền thống địa phương, con trăn này được xem là hiện thân của Cei Sak Malaow. Câu chuyện được truyền lại qua nhiều thế hệ và trở thành một phần ký ức dân gian gắn với Cei Sak Malaow và cây Phun Kraik.

Hình 12, 13. Cây Lim cổ thụ tại Palei Panet, được người dân địa phương gọi là Phun Kraik hoặc Phun Kran, theo truyền thống được cho là hơn 400 năm tuổi và gắn với ký ức về Cei Sak Malaow trong truyền thống Po At. Ảnh: Putra Podam.


Không gian chứng tích Po At tại Phan Hòa

Không gian ký ức về Po At tại Phan Hòa không chỉ tập trung tại các đền tưởng niệm mà còn được lưu giữ qua nhiều địa điểm, địa danh, hiện vật và truyền thống cộng đồng liên quan đến nhà vua, hoàng hậu Bia Kati và Cei Sak Malaow. Những chứng tích này phân bố trong không gian cư trú và sản xuất của cộng đồng tại Phan Hòa, tạo thành một hệ thống ký ức gắn với lịch sử vương quyền Panduranga.

Các chứng tích được ghi nhận gồm:

- Đền Po Patao At tại Palei Panet - Bình Thắng, với địa điểm cũ tại Car Limaow, địa điểm mới tại Mbok Dhot và bia đá patau nisan gắn với Po At. Hệ thống địa điểm này lưu giữ ký ức về nhà vua và không gian tưởng niệm của cộng đồng.

- Không gian Bia Kati tại Đồi Cát - Hòa Minh, gắn với truyền thống về Bia Kati, hoàng hậu của Po At, cùng những địa điểm và vùng đất được cộng đồng lưu truyền liên quan đến bà.

- Cây kiếm có chữ Ả Rập, hiện được dòng họ Nguyễn Hữu Mẫn lưu giữ. Theo tư liệu của Ts. Putra Podam, cây kiếm được truyền lại là quà tặng từ Johor dành cho Po At, gắn với quan hệ giữa Panduranga và thế giới Melayu-Islam.

- Phun Kraik, còn được người địa phương phát âm là Phun Kran, là địa điểm gắn với truyền thống về Cei Sak Malaow và hai cây Lim cổ thụ. Theo lời truyền lại trong cộng đồng, nơi đây còn lưu giữ những câu chuyện liên quan đến Cei Sak Malaow.

- Mbok At (Mbok Patao, Mbok Patao At) là địa danh được cộng đồng lưu truyền tại Phan Hòa, gắn trực tiếp với tên Po At. “Mbok At” được hiểu là gò Po At, trong đó Mbok chỉ gò đất và At là tên của nhà vua. Địa danh này gắn với không gian lịch sử và ký ức cộng đồng về Po At tại Phan Hòa.

Các địa điểm và hiện vật trên thuộc những lớp tư liệu khác nhau. Đền Po Patao At, patau nisan và cây kiếm là những chứng tích vật chất, có thể tiếp tục được khảo sát về niên đại, nguồn gốc và quá trình lưu truyền. Các địa danh, truyền thống dòng họ và ký ức cộng đồng phản ánh quá trình lưu giữ và truyền lại lịch sử qua nhiều thế hệ. Những câu chuyện về Cei Sak Malaow, Phun Kraik và con trăn xuất hiện dưới gốc cây thuộc lớp truyền thuyết dân gian được lưu truyền tại địa phương. Các lớp tư liệu này góp phần làm rõ ký ức về Po At, gia đình hoàng gia và vương quyền Panduranga tại Phan Hòa.


Đền Po At và tư liệu Champaka.info

Ba bài viết của Ja Karo đăng trên Champaka.info năm 2012 bổ sung một lớp tư liệu quan trọng về không gian văn hóa tại Phan Hòa. Các bài viết tập trung vào tranh luận xung quanh chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông tại khu vực Bình Minh, xã Phan Hòa.

Bài thứ hai, đăng ngày 26 tháng 10 năm 2012, ghi nhận việc dự kiến xây dựng Đàn Tiên Nông trên một khu đất giữa làng Bình Minh. Theo bài viết, khu đất này từng được xã Phan Hòa quy hoạch cho các công trình phục vụ cộng đồng và việc lựa chọn địa điểm đã tạo ra phản ứng từ chính quyền xã và cư dân Cham.

Bài thứ ba, đăng ngày 2 tháng 11 năm 2012, tiếp tục ghi nhận những ý kiến về địa điểm xây dựng Đàn Tiên Nông. Bài viết đồng thời liệt kê các cơ sở tôn giáo và địa điểm lịch sử của cộng đồng tại Phan Hòa. Theo bài viết, trong số các địa điểm được cộng đồng xem là quan trọng có Đền Po At tại Bình Thắng và Đền Po Klaong Kasat.

Đền Po At đã được ghi nhận trong tư liệu công khai về không gian văn hóa, lịch sử của Phan Hòa từ năm 2012. Tư liệu của Ts. Putra Podam về Đền Po Patao At, vị trí cũ tại Car Limaow, tháp được xây dựng tại vị trí mới ở Mbok Dhot và patau nisan gắn với mộ của vua Po At, khi được đặt cùng nhau, tạo thành một hệ thống tư liệu về địa điểm và chứng tích liên quan đến nhà vua. Những tư liệu này giúp mở rộng nghiên cứu về Po At từ nhân vật lịch sử sang không gian ký ức và các chứng tích được cộng đồng bảo tồn tại Phan Hòa.


Tranh luận về Đàn Tiên Nông tại Phan Hòa

Các bài II, III và IV của Ja Karo đăng trên Champaka.info năm 2012 ghi lại những phản ứng mạnh mẽ của cư dân Cham tại xã Phan Hòa trước chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông trong khu vực cư trú của cộng đồng. Bài II ngày 26 tháng 10 năm 2012 đặt vấn đề về việc lựa chọn khu đất giữa làng Bình Minh để xây dựng một công trình tín ngưỡng của người Việt, trong khi khu vực này là nơi cư trú của cộng đồng Cham. Bài III ngày 2 tháng 11 năm 2012 tiếp tục ghi nhận các ý kiến của cư dân về địa điểm xây dựng, đất đai, không gian văn hóa và sự khác biệt tín ngưỡng giữa Đàn Tiên Nông với cộng đồng Cham Bani tại Phan Hòa. Vấn đề chiếm đất người Chăm II. Vấn đề chiếm đất người Chăm III.

Theo các bài viết, Phan Hòa là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng Cham Bani. Năm 2012, xã Phan Hòa có các làng Bình Thắng, Bình Minh, Bình Hòa và làng mới Mblang Kacak; trong đó cộng đồng duy trì hệ thống thánh đường Bani cùng các đền thờ Po At và Po Klaong Kasat. Ja Karo nhấn mạnh rằng không gian này có hệ thống văn hóa và tín ngưỡng riêng, trong đó đất đai không chỉ gắn với đời sống cư trú mà còn với các địa điểm thiêng, đền miếu và sinh hoạt cộng đồng. Vấn đề chiếm đất người Chăm III.

Một điểm được Ja Karo đặt ra là người dân địa phương không biết đến Đàn Tiên Nông như một di tích của cộng đồng cư trú tại đây trước khi dự án được đặt ra từ năm 2008. Bài IV ghi nhận rằng từ đầu năm 2008, cư dân Cham tại Phan Hòa đã bày tỏ sự bất ngờ và phản đối trước chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông trên khu đất này. Tác giả cũng cho biết các tư liệu và bài báo về Đàn Tiên Nông tại Bình Thuận chỉ bắt đầu xuất hiện khi chủ trương xây dựng công trình được đặt ra. Vấn đề chiếm đất người Chăm IV.

Hình 14, 15. Khu vực được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận xác định trong hồ sơ di tích lịch sử cấp tỉnh và có chủ trương triển khai xây dựng công trình Đàn Tiên Nông theo mô hình văn hóa Bắc Việt. Địa điểm nằm tại khu vực trung tâm xã Phan Hòa, bên cạnh nhà ông Nguyễn Phú Tài, một trí thức người Cham. Trong ảnh, đàn dê đang kiếm ăn trên khu đất dự kiến xây dựng công trình.

Trước khi có chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông, khu vực này vốn là một gò đất có nhiều bụi gai và cây cối mọc tự nhiên. Theo ký ức của cư dân địa phương, người dân Palei Aia Mamih từng sử dụng khu vực này để đi vệ sinh do thời kỳ đó nhiều gia đình chưa có nhà tiêu. Địa điểm nằm trong không gian cư trú của bốn làng Cham theo Agama Awal (Islam sơ kỳ), gồm Palei Panet (Bình Thắng), Palei Aia Mamih (Minh Mỵ, nay là Bình Minh), Palei Dik (Bình Hòa) và Palei Mbok Kacak (An Bình). Chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông tại khu vực này từng gặp sự phản đối của cư dân Phan Hòa do công trình được dự kiến triển khai trong không gian sinh hoạt của cộng đồng Cham theo Agama Awal. Trước phản ứng của người dân, việc xây dựng đã dừng lại. Dù công trình chưa được triển khai, hồ sơ và chủ trương về Đàn Tiên Nông vẫn được lưu giữ, tạo khả năng dự án có thể được đưa ra xem xét hoặc triển khai trở lại vào thời điểm khác. Việc này tiếp tục là vấn đề được cộng đồng địa phương quan tâm, nhất là khi công trình dự kiến đặt ngay trong không gian văn hóa–tôn giáo của các palei Cham theo Agama Awal. Hình ảnh cho thấy rõ hiện trạng khu đất: một khoảng đất trống, cây bụi và thảm thực vật thưa, đàn dê của cư dân địa phương đang chăn thả. Đây là một không gian sinh hoạt thực tế của cộng đồng trước khi có bất kỳ công trình Đàn Tiên Nông nào được xây dựng. Ảnh: Putra Podam.

Trong không gian địa phương, khu gò đất được cư dân gọi là Mbok At, nghĩa là gò Po At, gắn với tên gọi và lịch sử của Po At. Đây là một địa điểm nằm giữa không gian cư trú của bốn làng Cham Bani tại Phan Hòa. Việc đặt một công trình tín ngưỡng của người Việt tại đây, theo phản ánh của Ja Karo, đã tạo ra câu hỏi về mục đích sử dụng đất và sự thay đổi không gian văn hóa của cộng đồng Cham.

Vấn đề tín ngưỡng cũng được đặt ra rõ trong các bài viết. Đàn Tiên Nông thuộc hệ thống tín ngưỡng của người Việt, trong khi cộng đồng Cham Bani tại Phan Hòa theo Agama Awal (Hồi giáo sơ kỳ) và có những quy định nghiêm ngặt về thực phẩm, trong đó có việc không sử dụng thịt heo. Bài IV dẫn thông tin về nghi lễ Đàn Tiên Nông với lễ vật là heo nguyên con và đặt câu hỏi về khả năng xảy ra xung đột hoặc xáo trộn không gian tín ngưỡng khi một nghi lễ như vậy được tổ chức ngay trong khu vực cư trú của cộng đồng Cham Bani. Vấn đề chiếm đất người Chăm IV.

Hình 16, 17. Chủ trương xây dựng Đàn Tiên Nông được đưa ra trong thời điểm xã Phan Hòa quy hoạch khu vực đầu làng Bình Minh để phát triển trường học, chợ và các công trình văn hóa – xã hội. Khu vực này đã có trường Tiểu học, Trường THCS, hội trường thôn Bình Minh, bưu điện và nhà văn hóa thôn; sau đó một phần đất được quy hoạch cho trường mầm non lại được dự kiến sử dụng để xây dựng Đàn Tiên Nông. Đối với cộng đồng Cham theo Agama Awal tại Phan Hòa, việc đưa một công trình tín ngưỡng của cộng đồng khác vào không gian cư trú và sinh hoạt của mình đặt ra những vấn đề về đất đai, không gian văn hóa và đời sống tín ngưỡng. Theo phản ánh của người dân, chính quyền xã Phan Hòa từng kiến nghị về những vấn đề có thể phát sinh, nhưng chủ trương vẫn được duy trì trong hồ sơ. Công trình sau đó chưa được triển khai do sự phản đối của người dân địa phương. Ảnh: Putra Podam.

Một vấn đề khác được Ja Karo đặt ra là sự khác biệt trong chính sách bảo tồn di sản. Trong khi chính quyền Bình Thuận tiến hành hồ sơ công nhận Đàn Tiên Nông là di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, các đền miếu của cộng đồng Cham tại Phan Hòa, trong đó có Đền Po At và Đền Po Klaong Kasat, chưa được quan tâm tương xứng theo phản ánh của tác giả. Bài III ghi nhận cộng đồng đã nhiều lần đề nghị công nhận Đền Po Klaong Kasat để có điều kiện duy trì lễ hội cầu mưa và bảo tồn di sản của mình. Vấn đề chiếm đất người Chăm III.

Ja Karo đồng thời nhắc đến cụm tháp Po Dam ở phía tây Phan Hòa, một di tích Champa có niên đại từ thế kỷ IX và được tác giả mô tả đang xuống cấp. Sự đối lập mà các bài viết đặt ra là: trong khi những di tích Champa có kiến trúc, đền tháp và chứng tích vật chất rõ ràng cần được bảo tồn, một khu đất trống được lựa chọn để xây dựng và công nhận Đàn Tiên Nông. Đây là một trong những nội dung chính tạo nên tranh luận về chính sách bảo tồn văn hóa tại Phan Hòa. Vấn đề chiếm đất người Chăm III.

Bài IV ghi nhận Quyết định số 1777/QĐ-UBND ngày 11 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc công nhận Đàn Tiên Nông là di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh. Ja Karo cho rằng quyết định này được ban hành sau nhiều năm cộng đồng Cham phản đối dự án và đặt câu hỏi về cơ sở lịch sử, khảo cổ của địa điểm. Bài viết cũng đặt vấn đề về những mảnh gạch cũ được sử dụng trong lập luận xác định di tích và yêu cầu làm rõ hồ sơ khảo cổ, tư liệu lịch sử liên quan đến địa điểm. Những nhận định này thuộc lập luận và phản ánh của Ja Karo trong bài viết năm 2012. Vấn đề chiếm đất người Chăm IV. 

Ba bài viết của Ja Karo vì thế cung cấp một nguồn tư liệu quan trọng về phản ứng xã hội, tranh luận đất đai, sự khác biệt tín ngưỡng và vấn đề bảo tồn di sản tại Phan Hòa trong giai đoạn 2008-2012. Khi đặt cạnh các tư liệu về Po At, Đền Po At, Đền Po Klaong Kasat, không gian bốn làng Cham Bani và các di tích Champa lân cận, nhóm tư liệu này cho thấy vấn đề Đàn Tiên Nông không chỉ liên quan đến một công trình tín ngưỡng mà còn gắn với lịch sử sử dụng đất, không gian văn hóa và quyền bảo tồn di sản của cộng đồng Cham tại Phan Hòa.


Phan Hòa và hệ thống chứng tích Champa

Phan Hòa là một không gian lưu giữ nhiều lớp ký ức lịch sử liên quan đến vương quyền Panduranga. Trong phạm vi nghiên cứu về Po At, các địa điểm và chứng tích liên quan gồm Đền Po At, không gian tưởng niệm Bia Kati, Phun Kraik, các địa danh gắn với Po At và những hiện vật được lưu truyền trong các dòng họ.

Hệ thống chứng tích này gồm nhiều loại tư liệu khác nhau như biên niên sử Panduranga, truyền thống dòng họ, địa danh, kiến trúc, bia đá, hiện vật và truyền thuyết. Mỗi loại tư liệu có giá trị và mức độ xác thực khác nhau. Khi được khảo sát trong cùng một không gian lịch sử, chúng góp phần làm rõ sự tồn tại của ký ức về Po At và vương quyền Panduranga tại Phan Hòa.

Phan Hòa do đó là một địa bàn quan trọng để tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa vương quyền Panduranga, ký ức cộng đồng và hệ thống di sản vật chất được lưu truyền qua nhiều thế hệ.


Những năm cuối triều đại và kế vị

Những năm cuối triều Po At diễn ra trong bối cảnh quan hệ giữa Panduranga với các thế lực phía bắc ngày càng phức tạp. Năm 1578, Champa có hoạt động quân sự tại khu vực Phú Yên và Thành Hồ. Nguồn Việt Nam ghi việc Lương Văn Chánh đánh Thành Hồ trong năm này.

Năm 1579, Po At kết thúc 27 năm trị vì. Po Klong Halau kế vị, mở đầu một giai đoạn mới trong lịch sử Panduranga.

Sự chuyển giao năm 1579 đánh dấu sự kết thúc của vương triều Po Mahosarak trong chuỗi vương quyền Panduranga.


Sự kiện chính

1553: Po At kế vị Po Kunarai.

1553-1579: Po At trị vì Panduranga trong 27 năm.

Po At là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak.

Trung tâm quyền lực gắn với Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng); về sau Parik (Phan Rí) giữ vai trò quan trọng trong không gian chính trị Panduranga.

Po At được các tư liệu Panduranga ghi nhận theo Islam. Tư liệu của Ts. Putra Podam và một số tư liệu ghi tên Islam của ông là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim.

Quan hệ giữa Panduranga và thế giới Melayu-Islam tiếp tục được duy trì; truyền thống về Po At ghi nhận mối liên hệ với Johor.

1578: Champa có hoạt động quân sự tại khu vực Phú Yên và Thành Hồ.

1579: Po At kết thúc triều đại; Po Klong Halau kế vị.

Ký ức về Po At, Bia Kati và Cei Sak Malaow tiếp tục được bảo tồn tại Palei Panet - Phan Hòa qua đền tưởng niệm, patau nisan, địa danh, hiện vật gia tộc và truyền thuyết cộng đồng.


Vị trí lịch sử

Po At là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak và là một nhân vật quan trọng của Panduranga trong thế kỷ XVI. Triều đại của ông thuộc giai đoạn Panduranga tiếp tục duy trì vương quyền ở phía nam sau biến cố Vijaya năm 1471, đồng thời mở rộng quan hệ với không gian Melayu-Islam.

Về lịch sử chính trị, Po At gắn với Biuh Bal Batsinâng và giai đoạn cuối của vương triều Po Mahosarak. Về lịch sử khu vực, triều đại của ông nằm trong thời kỳ Champa duy trì quan hệ với các mạng lưới Melayu-Islam và tiếp tục hoạt động quân sự ở vùng phía bắc.

Trong ký ức cộng đồng, Po At để lại một hệ thống chứng tích và địa danh tập trung tại Palei Panet - Phan Hòa. Đền tưởng niệm Po At, patau nisan, ký ức về Bia Kati, Cei Sak Malaow, Phun Kraik, cây kiếm được lưu truyền trong dòng họ và các địa danh liên quan tạo thành một không gian ký ức gắn với vương quyền Panduranga thế kỷ XVI.

Các bài viết của Ja Karo trên Champaka.info năm 2012 bổ sung một lớp tư liệu về đời sống xã hội, không gian văn hóa và những tranh luận liên quan đến di sản tại Phan Hòa. Khi đặt cạnh biên niên sử Panduranga, tư liệu cộng đồng và các chứng tích vật chất, nhóm tư liệu này mở rộng nghiên cứu về Po At từ lịch sử một vị vua sang lịch sử ký ức, không gian văn hóa và di sản của cộng đồng Panduranga tại Phan Hòa.


Kết luận

Po At trị vì Panduranga từ năm 1553 đến 1579, là vị vua cuối cùng của vương triều Po Mahosarak. Các tư liệu Panduranga ghi nhận ông theo Islam, với tên Islam được truyền lại là Sultan Shafi'i Ibn Abu Khasim. Triều đại của ông thuộc giai đoạn vương quyền Panduranga tiếp tục được duy trì ở phía nam sau biến cố Vijaya năm 1471, đồng thời tăng cường quan hệ với không gian Melayu-Islam.

Trong thời kỳ Po At, Panduranga tiếp tục tham gia vào các mạng lưới quan hệ khu vực. Tư liệu truyền thống ghi nhận quan hệ giữa Po At với Johor, trong đó có thư từ bằng chữ Jawi, nhân vật Sultan Mahmud Shah, tướng Shalahuddin và lực lượng Champa được kể gồm khoảng 400 chiến thuyền xuất phát từ vùng Canah. Những chi tiết này thuộc lớp tư liệu truyền thống Melayu-Champa và cần được phân biệt với các chứng cứ đương thời có thể kiểm chứng độc lập.

Triều đại Po At cũng nằm trong giai đoạn Panduranga tiếp tục duy trì hoạt động quân sự ở vùng phía bắc. Năm 1578, Champa có hoạt động quân sự tại khu vực Phú Yên, được các nguồn Việt Nam ghi nhận qua sự kiện Lương Văn Chánh đánh Thành Hồ. Sự kiện này cho thấy Panduranga vẫn có khả năng tổ chức lực lượng và tham gia vào các biến động quân sự ở khu vực phía bắc vào cuối thế kỷ XVI.

Po At còn được ghi nhớ trong không gian văn hóa–lịch sử tại Phan Hòa. Đền tưởng niệm Po At, patau nisan, các địa danh liên quan, ký ức về Bia Kati, truyền thống về Cei Sak Malaow, Phun Kraik và cây kiếm được lưu truyền trong dòng họ tạo thành một hệ thống chứng tích gắn với nhà vua và vương quyền Panduranga. Những chứng tích này cho thấy ký ức về Po At không chỉ được duy trì qua sử liệu mà còn tồn tại trong địa danh, hiện vật, không gian tưởng niệm và truyền thống cộng đồng.

Các bài viết của Ja Karo trên Champaka.info năm 2012 bổ sung thêm tư liệu về đời sống xã hội, không gian cư trú, tín ngưỡng và những tranh luận liên quan đến di sản tại Phan Hòa. Khi đặt cạnh biên niên sử Panduranga, tư liệu dòng họ, truyền thống cộng đồng và các chứng tích vật chất, nhóm tư liệu này mở rộng phạm vi nghiên cứu Po At từ lịch sử vương quyền sang lịch sử ký ức và không gian văn hóa của cộng đồng Panduranga.

Các tư liệu về Po At không đồng nhất về niên đại, nguồn gốc và giá trị chứng minh. Biên niên sử, tư liệu truyền thống, ký ức dòng họ, địa danh, hiện vật và các địa điểm tưởng niệm, khi được đối chiếu và xem xét trong từng bối cảnh, tạo thành một hệ thống tư liệu quan trọng để nghiên cứu Po At, vương triều Po Mahosarak và quá trình duy trì ký ức lịch sử Panduranga tại Phan Hòa.


Links:

1. Po At (Po Patao At) - vị vua Islam của Panduranga 

2. Trả lại không gian tưởng niệm cho Po Patao At