(Translated from the Vietnamese original)
Po Klong Mah Nai, hay còn gọi là Po Mah Taha với tước hiệu Hồi giáo là Maha Taha, trị vì Panduranga từ năm 1622 đến 1627, là một trong những nhân vật trung tâm của lịch sử Panduranga-Champa thế kỷ XVII, đồng thời mở đầu cho Vương triều thứ 8 của Panduranga với kinh đô đặt tại Bal Canar. Nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Pháp xếp ông vào nhóm các quân vương theo Hồi giáo, phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của Islam trong cơ cấu chính trị và xã hội của triều đình Panduranga thời kỳ này.
Ông sinh tại Panduranga-Champa và qua đời tại Bal Canar (Parik-Panduranga), nay thuộc khu vực Phan Rí - Bình Thuận. Po Mah Taha thuộc các sắc tộc Churu và Raglai, và không có quan hệ huyết thống với vương triều Po Klong Halau (1579-1603), dòng vua có ảnh hưởng mạnh từ nửa sau thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII (Aymonier, 1890). Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), ông lên ngôi vào năm Tuất, thoái vị vào năm Mão, trị vì sáu năm, với kinh đô đặt tại Bal Canar. Trong các thư tịch Hán Nôm triều Nguyễn, tên ông được phiên âm là Bà Khắc-Lượng Như-Lai, một dạng Hán hóa của danh xưng Cham nguyên thủy.
Trước khi lên ngôi, Po Klong Mah Nai là quan chức cao cấp dưới triều Po Aih Khang (1618-1622), được phong tước Maha Taha, thể hiện vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính, quân sự và các quyết định chính trị. Là tín đồ Hồi giáo, ông củng cố ảnh hưởng của tín đồ Bani (Hồi giáo) trong triều đình, thiết lập một hệ thống quản lý dựa trên cơ cấu tôn giáo, đồng thời duy trì cân bằng với các tín đồ Hindu để đảm bảo ổn định xã hội. Tên Hồi giáo Po Maha Taha kết hợp danh xưng Champa “Po” với thuật ngữ Ả Rập “Maha Taha” (người vĩ đại, thanh khiết), thể hiện vị thế lãnh đạo tôn giáo và chính trị. Sau khi qua đời, ông được truy tôn hậu thế với danh hiệu Sultan Ya Inra Cahya Basupa (Sultan Jaya Indra, splendour of the Puspa flower), trong đó “Sultan” biểu thị quyền lực Hồi giáo, “Ya Inra” tượng trưng cho vinh quang và sức mạnh thần thánh của Indra, “Cahya” nghĩa là ánh sáng, rực rỡ, và “Basupa” ám chỉ hoa Puspa, biểu tượng thịnh vượng, vẻ đẹp và uy quyền vương triều. Danh hiệu này phản ánh sự hòa trộn giữa văn hóa Champa bản địa, Ấn Độ hóa và Hồi giáo, đồng thời nhấn mạnh uy tín chính trị và tôn giáo của Po Mah Taha (Durand, 1906).
Po Mah Taha chỉ có một con gái, Bia Than Cih (Bia Sucih), và đã lựa chọn Po Rome (1627-1651), một quan chức Churu tài năng, làm người kế vị, đồng thời gả con gái cho ông nhằm đảm bảo tiếp nối quyền lực và chính sách Hồi giáo. Cơ chế kế thừa quyền lực này dựa trên năng lực và quan hệ chính trị, khác với truyền thống các triều đại trước dựa vào dòng dõi hoàng tộc, đồng thời nâng cao vai trò các dân tộc vùng cao trong xã hội Panduranga-Champa.
Trong nhiệm kỳ trị vì, Po Mah Taha củng cố quyền lực trung ương thông qua giám sát quan chức địa phương, quản lý thu thuế và bảo vệ tuyến thương mại trên biển. Việc tích hợp quan chức Bani vào pháp luật, quân sự và hành chính nâng cao hiệu quả quản trị, trong khi các tín đồ Hindu vẫn duy trì các hoạt động tín ngưỡng bản địa nhưng không chiếm ưu thế, giúp ổn định chính trị và quản lý nhân lực sau các tổn thất do chiến tranh với chúa Nguyễn năm 1611. Ông còn phát triển mạng lưới ngoại giao với các vương quốc lân cận và cộng đồng Hồi giáo Malay, củng cố sự ổn định kinh tế và thương mại của Panduranga trên Biển Đông, đồng thời điều phối các dân tộc vùng cao và quản lý nhập cư, thiết lập cơ chế hành chính và quân sự dựa trên năng lực.
Các nghiên cứu, đặc biệt của Po Dharma ghi nhận rằng Po Rome là một trong những quân vương tiêu biểu nhất của Panduranga-Champa cận đại, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa và tôn giáo Hồi giáo, thông qua các quan hệ giao thương, hôn phối với cộng đồng Malay và các vùng Hồi giáo hải đảo Đông Nam Á. Việc Po Mah Taha truyền ngôi cho Po Rome phản ánh giai đoạn thế kỷ XVII tại Panduranga là thời kỳ Islam hóa mạnh mẽ, đặc biệt trong tầng lớp vương triều và giới quý tộc Churu, Cham, Raglai, đặt nền tảng cho các tuyến di cư lớn sang Cambodia và Malaysia trong các thế kỷ XVIII-XIX, sau các cuộc xung đột với Đại Việt.

Hình 1. Po Klong Mah Nai (trị vì: 1622-1627), vị vua theo Hồi giáo (Islam) là vị vua rất sùng bái Islam, tước hiệu Hồi giáo: Maha Taha. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), Ngài lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Thỏ, trị vì 6 năm, đóng đô ở Bal Canar (Panrik - Panduranga). Đền vua Po Klong Mah Nai được xây dựng trên đồi cát gần Palei Pabah Rabaong (thôn Mai Lãnh, xã Phan Thanh) tiếp giáp thôn Lương Bình, xã Lương Sơn cách ủy ban huyện Bắc Bình khoảng 15km và thành phố Phan Thiết khoảng 50km về phía bắc. Theo H. Parmentier (Monuments chams de l'Annam, Public. EFEO, Paris, tập 1, 1909, tr. 38), Po Klong Mah Nai là tên gọi của vua Po Mah Taha, tức là cha vợ của vua Po Rome (1627-1651). Đền của Po Klong Mah Nai là nơi tôn kính vua Po Mah Taha cùng Hoàng hậu Bia Som và các thứ hậu người Champa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 2. Vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha, Maha Taha), trị vì 1622-1627, là vị vua theo Hồi giáo (Islam). Bức tượng gốc khi chưa thay áo hoàng triều Champa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 3. Vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha, Maha Taha), trị vì giai đoạn 1622-1627, là vị vua Champa theo Hồi giáo (Islam). Dựa trên bức tượng gốc khi chưa được trang phục áo hoàng triều Champa, Putra Podam đã sử dụng công nghệ AI để phục dựng và thay thế trang phục bằng áo hoàng triều Champa thế kỷ XVII. Ảnh: Putra Podam.

Hình 4. Vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha, Maha Taha), trị vì giai đoạn 1622-1627, là vị vua Champa theo Hồi giáo (Islam). Dựa trên bức tượng gốc khi chưa được trang phục áo hoàng triều Champa, Putra Podam đã sử dụng công nghệ AI để phục dựng và thay thế trang phục bằng áo hoàng triều Champa thế kỷ XVII. Ảnh: Putra Podam.

Hình 5. Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), trị vì (1622-1627), vị vua sùng bái Islam (Hồi giáo). Ảnh: Sưu tầm.
Đền Po Klong Mah Nai hiện tọa lạc trên một gò cát thuộc khu vực Palei Pabah Rabaong (thôn Mai Lãnh, xã Phan Thanh), giáp ranh với thôn Lương Bình (xã Lương Sơn), cách trung tâm huyện Bắc Bình khoảng 15 km và cách thành phố Phan Thiết chừng 50 km. Đây là một trong những di tích dân gian, tín ngưỡng gắn liền với hệ thống thờ phụng các quân vương Champa tại Panduranga.
Theo Henri Parmentier trong công trình Monuments chams de l’Annam (Tập I, EFEO, Paris, 1909, tr. 38), “Po Klong Mah Nai” là tên dân gian Cham dùng để chỉ vua Po Mah Taha, người trị vì Panduranga từ năm 1622 đến 1627, và là cha vợ của Po Rome (1627-1651). Parmentier cũng ghi nhận rằng đền hiện nay là nơi tôn kính không chỉ Po Mah Taha mà còn thờ vương phi Bia Som, cùng một người vợ thứ khác của nhà vua thuộc dân tộc Cham bản địa. Điều này phù hợp với truyền thống thờ phụng các quân vương và hoàng hậu trong thiết chế tín ngưỡng dân gian Champa, thường kết hợp giữa yếu tố lịch sử và tôn giáo địa phương.
Các ghi chép dân gian và một số tư liệu của người Pháp cho biết đền Po Klong Mah Nai đã bị cháy vào cuối thế kỷ XIX, sau đó được cộng đồng Cham địa phương tu sửa lại bằng vật liệu mới. Đến năm 1964, di tích được trùng tu quy mô hơn bởi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, qua đó ổn định hình thái kiến trúc hiện nay.

Hình 6. Bảng vinh danh trùng tu được khắc trên đền Po Klong Mah Nai, ghi ngày 18/12/1964 bởi quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh: Putra Podam.
Ngày 7 tháng 1 năm 1993, đền Po Klong Mah Nai được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 43/VH/QĐ(3). Tuy nhiên, bảng bia chú thích đặt trước cổng di tích bởi Sở Văn hóa Bình Thuận lại ghi rằng Po Klong Mah Nai là vị vua cuối cùng của vương quốc Champa. Nhận định này hoàn toàn không phù hợp với sử liệu Champa, đồng thời gây sai lệch nghiêm trọng về tiến trình lịch sử Panduranga.
Theo biên niên sử Panduranga, đặc biệt là công trình của Po Dharma (Le Panduranga (Campa) 1802-1835, EFEO, 1987), Po Mah Taha (Po Klong Mah Nai) là vị vua thứ 18 trong chuỗi niên biểu, trị vì giai đoạn 1622-1627, và đã nhường ngôi cho Po Rome vào năm 1627. Sau ông, Champa còn tồn tại thêm hơn hai thế kỷ, với nhiều đời vua nối tiếp cho đến khi Minh Mạng xóa bỏ vương quốc vào năm 1832. Vị quân vương cuối cùng của Champa, được xác định rõ trong tư liệu Cham, là Po Phaok The (1828-1832), người cai trị Panduranga trong giai đoạn cuối cùng trước cuộc nổi dậy 1832-1835. Do đó, việc gán Po Klong Mah Nai là “vua cuối cùng của Champa” là một sai lầm lịch sử, có thể xuất phát từ sự thiếu cập nhật tài liệu hoặc nhầm lẫn giữa danh xưng tín ngưỡng và niên biểu hoàng triều.

Hình 7. Tấm bia được dựng tại cổng chính của đền Po Klong Mah Nai, nơi thờ vua Po Klong Mah Nai (trị vì 1622-1627). Nội dung trên bia do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Bình Thuận) chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, phần nội dung ghi lại lịch sử Champa có nhiều điểm chưa chính xác so với tư liệu lịch sử Champa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 8. Đền Po Klong Mah Nai được xếp hạng là Di tích Lịch sử và Nghệ thuật cấp Quốc gia của Việt Nam theo Quyết định số 43/VH/QĐ ngày 07/01/1993 của Bộ Văn hóa - Thông tin. Ảnh: Putra Podam.

Hình 9. Đền Po Klong Mah Nai, nơi thờ vua Po Klong Mah Nai (trị vì 1622-1627), một vị vua của chính thể Champa theo Hồi giáo và mang tước hiệu Hồi giáo là Maha Taha. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), ông lên ngôi vào năm Tuất, thoái vị vào năm Thỏ, trị vì trong sáu năm và đặt kinh đô tại Bal Canar (Panrik, Panduranga), nơi giữ vai trò trung tâm chính trị của Panduranga vào thế kỷ XVII. Đền Po Klong Mah Nai được xây dựng trên một đồi cát thuộc thôn Lương Bình, xã Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, cách trung tâm hành chính huyện Bắc Bình khoảng 15 km và cách thành phố Phan Thiết khoảng 50 km. Đây là không gian nghi lễ và tưởng niệm dành cho việc thờ tự và tôn kính vua Po Mah Taha, Hoàng hậu Bia Som cùng các thứ hậu có nguồn gốc Champa, qua đó bảo tồn ký ức lịch sử và truyền thống tôn giáo của cộng đồng người Cham ở vùng Champa phía Nam. Ảnh: Putra Podam.

Hình 10. Đền Po Klong Mah Nai, nơi thờ vua Po Klong Mah Nai (trị vì 1622-1627), một vị vua của chính thể Champa theo Hồi giáo và mang tước hiệu Hồi giáo là Maha Taha. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), ông lên ngôi vào năm Tuất, thoái vị vào năm Thỏ, trị vì trong sáu năm và đặt kinh đô tại Bal Canar (Panrik, Panduranga), nơi giữ vai trò trung tâm chính trị của Panduranga vào thế kỷ XVII. Đền Po Klong Mah Nai được xây dựng trên một đồi cát thuộc thôn Lương Bình, xã Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, cách trung tâm hành chính huyện Bắc Bình khoảng 15 km và cách thành phố Phan Thiết khoảng 50 km. Đây là không gian nghi lễ và tưởng niệm dành cho việc thờ tự và tôn kính vua Po Mah Taha, Hoàng hậu Bia Som cùng các thứ hậu có nguồn gốc Champa, qua đó bảo tồn ký ức lịch sử và truyền thống tôn giáo của cộng đồng người Cham ở vùng Champa phía Nam. Ảnh: Putra Podam.
Trên bản bia đá ghi rằng phía Bắc thờ hoàng hậu người Cham Bia Som và phía Nam thờ thứ hậu người Việt Nguyễn Thị Ngọc Thương. Bản bia đá còn ghi rằng: “Đền phía Nam thờ bà thứ phi người Việt cùng và hai tượng Kut con bà” ???
Theo Putra Podam và biên niên sử Panduranga (Sakkarai Dak Rai Patao), Po Klong Mah Nai là một vị vua theo Hồi giáo, có chính thất là Hoàng hậu Bia Som và một số thứ phi người Cham khác. Không có bất kỳ công trình nghiên cứu lịch sử Champa, tư liệu của người Pháp, hay biên niên sử nào ghi nhận việc Po Klong Mah Nai kết hôn với một công chúa người Việt.
Sai lệch này ảnh hưởng đến nhận thức về tôn giáo và văn hóa Champa. Po Klong Mah Nai là người theo Hồi giáo, việc ghi nhận ông kết hôn với công chúa Đại Việt sẽ làm sai lệch hiểu biết về tôn giáo của triều đại, mối quan hệ chính trị và xã hội giữa Panduranga và các vương triều lân cận. Việc loại bỏ hoặc hiệu đính thông tin này là cần thiết để bảo vệ tính xác thực lịch sử và giá trị nghiên cứu văn hóa, giáo dục.
Toàn bộ tư liệu chữ Cham cổ, gồm biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), cũng như khảo cứu của học giả Pháp và các nhà nghiên cứu người Cham trong thế kỷ XX, đều chỉ ghi nhận vợ của Po Mah Taha là Hoàng Hậu Bia Som, cùng một số thứ phi người Cham thuộc các dòng tộc bản địa. Không có bất kỳ một văn bản Cham, văn bản triều Nguyễn, hay ghi chép của EFEO nào nhắc đến việc Po Klong Mah Nai cưới vợ Việt, càng không có tư liệu xác nhận ông có con chung với một thứ phi người Việt như nội dung trên bia đã nêu.
Theo Henri Parmentier, người khảo tả hệ thống tháp, đền Champa một cách hệ thống đầu tiên, đền Po Klong Mah Nai là nơi thờ Po Mah Taha, Hoàng Hậu Bia Som và một thứ phi người Cham. Tương tự, Po Dharma một học giả nghiên cứu Champa quan trọng nhất thế kỷ XX trong Chroniques des rois de Panduranga và Le Panduranga (Campa) 1802-1835 cũng không hề đề cập sự hiện diện của một thứ phi Việt trong bất kỳ đời vua Panduranga thế kỷ XVII.
Ngay cả các hồi ký và tư liệu dân tộc học của người Cham thời Pháp thuộc (Moussay, Cabaton), vốn rất chi tiết về quan hệ hôn phối của tầng lớp quý tộc cũng không có một ghi chép nào nhắc tới một thứ phi người Việt của Po Klong Mah Nai.
Do vậy, kết luận về “thứ phi người Việt” trong đền chỉ dựa vào diễn giải hiện đại mang màu sắc chính trị, không có nền tảng sử liệu Cham hay Việt để chứng minh. Việc đưa thông tin này lên bia di tích vì vậy không đảm bảo tính chính xác lịch sử và cần được xem xét điều chỉnh dựa trên hệ thống tư liệu gốc.

Hình 11. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh do Henri Parmentier (1871-1949) vẽ, học giả và kiến trúc sư người Pháp, đồng thời là Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu, kiểm kê và mô tả các di tích Champa. Các hình vẽ tượng và di tích Champa của ông được xuất bản trong tác phẩm nổi tiếng Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam. Ảnh: Henri Parmentier. Edited by Putra Podam.

Hình 12. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh do Henri Parmentier (1871-1949) vẽ, học giả và kiến trúc sư người Pháp, đồng thời là Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu, kiểm kê và mô tả các di tích Champa. Các hình vẽ tượng và di tích Champa của ông được xuất bản trong tác phẩm nổi tiếng Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam. Ảnh: Henri Parmentier. Edited by Putra Podam.

Hình 13. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), là vị hoàng hậu theo Hồi giáo (Islam). Bức tượng được chụp trước khi thay áo hoàng triều Champa. Bức tượng tượng này được đặt trong phòng phía Bắc của đền Po Klong Mah Nai. Ảnh: Putra Podam.

Hình 14. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh gốc được Henri Parmentier (1871-1949) thực hiện; ông là học giả, kiến trúc sư người Pháp và Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Dựa trên bức ảnh của Henri Parmentier, Putra Podam đã sử dụng công nghệ AI để phác họa lại hình ảnh Hoàng hậu theo văn hóa Champa thế kỷ XVII. Ảnh: Putra Podam.

Hình 15. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh gốc được Henri Parmentier (1871-1949) thực hiện; ông là học giả, kiến trúc sư người Pháp và Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Dựa trên bức ảnh của Henri Parmentier, Putra Podam đã sử dụng công nghệ AI để phác họa lại hình ảnh Hoàng hậu theo văn hóa Champa thế kỷ XVII. Ảnh: Putra Podam.
Quần thể kiến trúc đền thờ Po Klong Mah Nai gồm năm gian thờ được bố trí theo trục truyền thống của kiến trúc tôn giáo Champa tại Panduranga. Ba gian chính nằm ở phía sau: gian trung tâm thờ vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha); gian bên trái thờ Hoàng hậu người Cham Po Bia Som, cùng với hai pho tượng Patuw Kut được xem là tượng thờ hai vị hoàng tử theo truyền thống dân gian Cham; gian bên phải thờ một Thứ phi người Cham, cũng kèm theo hai tượng Patuw Kut tượng trưng cho hai người con của bà theo tín ngưỡng Cham.
Phía trước là hai gian tiền điện, nơi cộng đồng thực hiện các nghi thức chuẩn bị trước khi vào bimong (chính điện), bao gồm chờ đợi, sắp đặt lễ vật, chỉnh trang trang phục và tiến hành các bước nhập lễ theo đúng quy phạm nghi lễ của người Cham tại Panduranga.
Hệ thống tượng thờ tại đền Po Klong Mah Nai được xem là những tác phẩm điêu khắc quý giá thuộc truyền thống điêu khắc hậu cổ điển Champa. Đặc biệt, tượng vua Po Klong Mah Nai, được tạc từ một khối đá xanh nguyên khối, thể hiện phong cách điêu khắc tinh tế, lối tạo hình vững chắc và trang trọng. Pho tượng mô tả nhà vua trong tư thế ngự triều, đầu đội vương miện mang phong cách biểu tượng quyền lực của các quân vương Panduranga thế kỷ XVII, là minh chứng quan trọng về sự tiếp nối truyền thống nghệ thuật hoàng gia Champa trong giai đoạn muộn.

Hình 16. Việc gán định danh chiếc mão này là mão ngự dụng của vua Po Klong Mah Nai (Maha Taha), vua Panduranga thế kỷ XVII, hiện chưa có cơ sở khoa học vững chắc. So sánh với truyền thống vương phục của các vương triều Hồi giáo đương thời trong khu vực như Champa Hồi giáo (Panduranga), Malay, Aceh và Java thế kỷ XVII cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Các vương triều này thường sử dụng khăn đội đầu (serban), mũ vải hoặc mão nhẹ mang tính biểu trưng, hạn chế trang trí hình khối lớn và chạm khắc dày đặc do quan niệm Hồi giáo về sự tiết chế trong biểu hiện quyền lực. Ngược lại, chiếc mão này có kết cấu nặng, phủ kim loại mạ vàng, hoa văn cuộn dày và gắn nhiều đá màu, phù hợp hơn với truyền thống Khmer - Angkor hậu kỳ. Sự khác biệt này củng cố nhận định rằng hiện vật không thuộc hệ thống vương phục Hồi giáo Champa của vua Po Klong Mah Nai vào đầu thế kỷ XVII. Ảnh: Sưu tầm.

Hình 17. Mặc dù chiếc mão này hiện được giới thiệu là “vương miện của vua Po Klong Mah Nai”, song xét về hình thức, phong cách nghệ thuật, bối cảnh tôn giáo và tư liệu lịch sử, không có cơ sở khoa học để xác định đây là mão ngự dụng của vua Po Klong Mah Nai (Maha Taha), vua Panduranga thế kỷ XVII. Hiện vật nên được hiểu là mão nghi lễ hoặc hiện vật thờ tự mang tính biểu trưng được tạo tác hậu kỳ, phục vụ việc thần thánh hóa hình tượng vua tại đền, không phải hiện vật lịch sử gốc của triều đại. Phản biện này đề nghị hội đồng khoa học điều chỉnh nhãn trưng bày, phân loại hiện vật, đồng thời mở rộng nghiên cứu để làm rõ lịch sử nghi lễ và thần thánh hóa vua Champa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 18. Theo Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận, hiện vật này được giới thiệu là đồ chụp búi tóc bằng vàng của Hoàng hậu Bia Som, có kỹ thuật chế tác tinh xảo và mang đặc trưng của trang sức nghi lễ Champa muộn. Đây có thể là loại trang sức chỉ dành cho phụ nữ thuộc tầng lớp hoàng tộc hoặc quý tộc cao cấp, được sử dụng trong các nghi lễ cung đình và tôn giáo. Tuy nhiên, hiện vật này không đủ cơ sở khoa học để khẳng định là đồ dùng cá nhân của hoàng hậu Bia Som, chính hậu của vua Po Klong Mah Nai. Không tồn tại văn bản lịch sử hay văn bia nào ghi nhận trực tiếp hiện vật gắn với nhân vật này, đồng thời hiện vật cũng thiếu ngữ cảnh khảo cổ rõ ràng để xác định chủ nhân cụ thể. Mặt khác, đồ chụp búi tóc bằng vàng không phải là hiện vật độc bản, mà là loại hình trang sức chung trong hoàng gia Cham, có thể được sử dụng bởi nhiều hoàng hậu, vương phi hoặc phụ nữ quý tộc khác. Từ góc độ nghiên cứu lịch sử và khảo cổ học, việc gán tên một cá nhân lịch sử cho hiện vật khi chưa có chứng cứ xác thực là không phù hợp với nguyên tắc khoa học. Trong trường hợp này, cách tiếp cận đúng đắn và thận trọng nhất là định danh hiện vật theo loại hình, niên đại và bối cảnh văn hóa, thay vì gắn với tên hoàng hậu Bia Som dựa trên suy đoán hoặc truyền miệng. Do đó, có thể kết luận rằng hiện vật là một đồ chụp búi tóc hoàng gia Cham có giá trị cao về mặt lịch sử và nghệ thuật, nhưng việc xác định nó thuộc về hoàng hậu Bia Som hiện vẫn chưa thể kiểm chứng và cần được xem xét. Ảnh: Putra Podam.
Hằng năm, cộng đồng Cham agama Ahier (Cham Ahier) thuộc nhóm tín đồ Ahier thờ Po Allah nhưng vẫn duy trì lớp tín ngưỡng bản địa Champa vẫn tổ chức nhiều nghi lễ truyền thống tại đền Po Klong Mah Nai. Các nghiên cứu dân tộc học của A. Cabaton và G. Moussay ghi nhận sự hòa giải giữa Hồi giáo và tín ngưỡng thờ vua trong đời sống tín ngưỡng Cham Ahier, cho thấy lý do đền thờ một vị vua Cham Hồi giáo vẫn được duy trì nghi lễ liên tục.
Theo hồ sơ của Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận, một số hiện vật được giới thiệu là “bảo vật của Po Klong Mah Nai” từng được lưu giữ tại nhà bà Nguyễn Thị Thềm ở Phan Rí (1911-1995). Tuy nhiên, đối chiếu với tư liệu dân tộc học cho thấy các vật phẩm này thực chất do một hậu duệ người Churu gửi nhờ bà Nguyễn Thị Thềm cất giữ trong bối cảnh xã hội biến động nửa sau thế kỷ XX, chứ không phải gia bảo của triều Po Klong Mah Nai (trị vì 1622-1627). Các nguồn tư liệu dân tộc học thế kỷ XX đồng thời xác nhận rằng gia bảo của dòng Po Klong Mah Nai hay Po Rome được lưu truyền nội tộc trong cộng đồng Churu-Cham Islam tại Panduranga và không truyền sang các nhóm tộc khác.
Trong cộng đồng Cham đôi khi tồn tại truyền thuyết cho rằng bà Nguyễn Thị Thềm là “công chúa Cham cuối cùng” và do đó có quyền thừa kế bảo vật Po Klong Mah Nai. Tuy nhiên, lập luận này không có cơ sở sử liệu. Thứ nhất, về mặt niên đại, Po Klong Mah Nai trị vì đầu thế kỷ XVII (1622-1627), trong khi bà Nguyễn Thị Thềm sinh năm 1911 và mất năm 1995, tức cách thời Po Klong Mah Nai gần 300 năm; do đó, bà không thể là hậu duệ trực hệ của triều đại này, càng không thể nắm giữ gia bảo gốc thuộc dòng Churu của vua. Thứ hai, theo biên niên sử Panduranga và phân tích của Po Dharma, bà Nguyễn Thị Thềm chỉ có thể là hậu duệ của các thủ lĩnh giai đoạn Thuận Thành trấn do triều Nguyễn bổ nhiệm từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu XIX như Po Saong Nyung Ceng (Nguyễn Văn Chấn, 1799-1822), Po Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh, 1822-1828) và Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa, 1828-832). Đây là những quan chức hành chính thuộc thiết chế chính trị mới của triều Nguyễn, không liên hệ huyết thống với vương tộc Churu của Po Klong Mah Nai (1622-1627) hay Po Rome (1627-1651).
Vì vậy, nhận định của Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận rằng các hiện vật tại nhà bà Nguyễn Thị Thềm là “bảo vật của Po Klong Mah Nai” không phù hợp với chứng cứ lịch sử, không tuân theo truyền thống bảo lưu gia bảo của hoàng tộc Churu-Cham Islam, và cần được hiệu đính nhằm đảm bảo tính chính xác trong diễn giải di sản Champa.



Hình 19, 20, 21. Một số bảo vật được Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận cho rằng liên quan vua Po Klong Mah Nai. Ảnh: Sưu tầm.
Trong triều đại Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), các nguồn sử liệu cho thấy vương quyền Panduranga chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Islam giáo, đặc biệt là từ dòng Islam Melayu-Aceh vốn đã giao thoa với Champa từ thế kỷ XV trở đi. Một số tư liệu truyền khẩu Cham, kết hợp với ghi chép của các học giả Pháp như Étienne Aymonier và Georges Maspero, đều thừa nhận rằng từ thế kỷ XVII, cộng đồng Cham tại Panduranga đã có đa số theo Islam, nhất là tầng lớp quý tộc và quân đội, những thành phần chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mạng lưới thương nhân Hồi giáo khu vực Ấn Độ Dương. Aymonier ghi nhận sự hiện diện dày đặc của cộng đồng Cham Islam ở Panduranga từ thế kỷ XVII, với các cơ sở tôn giáo Islam hóa mạnh hơn khu vực Bắc Champa đã mất sớm.
Sự du nhập Islam vào Champa, dù mang tính hòa bình, ban đầu gây ra không ít mâu thuẫn tư tưởng. Điều này xuất phát từ việc Champa vẫn còn di sản đậm nét của Hindu giáo một tôn giáo đã từng giữ vị thế thống trị trong nhiều thế kỷ trước đó, và chỉ suy tàn dần kể từ khi các trung tâm quyền lực Hindu ở Đông Nam Á như Majapahit, Angkor hay các tiểu quốc Malay-Hindu bị thay thế bởi các vương quốc Islam mới như Malacca hay Aceh vào thế kỷ XIV-XV. Chính sự chuyển tiếp giữa Hindu giáo và Islam giáo đã làm cho xã hội Cham bị phân hóa sâu sắc, đặc biệt là sự đối lập giữa cộng đồng Cham theo Hindu và Cham theo Islam.
Về mặt tư tưởng xã hội, Islam đã mang đến cho cư dân Champa một cuộc cách mạng tinh thần quan trọng: từ niềm tin “vạn vật hữu linh” và hệ thống đa thần cổ truyền chuyển sang niềm tin của độc thần giáo tin vào Allah, tin vào đấng Tối Cao duy nhất điều hành vũ trụ. Thay đổi này không chỉ là tôn giáo mà còn là sự thay đổi mô thức tư duy, khi con người hướng về Thượng Đế duy nhất thay vì mạng lưới thần linh địa phương. Sự du nhập này, theo quan sát của Po Dharma, “đã tạo nên một quá trình Hồi giáo hóa sâu rộng tại Panduranga, mạnh nhất trong các thế kỷ XVII-XVIII.
Tuy nhiên, quá trình Islam hóa tại Champa không phải không mang theo những tác động tiêu cực. Dù Islam tại Champa đã được “mềm hóa” (Islam localisé) nhằm phù hợp với truyền thống bản địa, một số giáo luật khắt khe của Islam vẫn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và xã hội, đặc biệt là các quan niệm về tiền định và sự phục tùng quyền lực. Việc đề cao thuyết tiền định đã vô tình trở thành công cụ chính trị trong tay tầng lớp vương quyền Champa nhằm yêu cầu thần dân trung thành với triều đình, duy trì trật tự xã hội, và hạn chế những yêu sách phản kháng từ quần chúng. Chính sự kết hợp giữa giáo lý tôn giáo và cơ chế phong kiến đã góp phần tạo nên tính an phận trong một bộ phận người dân Champa.
Sự phân hóa tôn giáo giữa Cham Hindu và Cham Islam ngày càng trở nên rõ nét hơn trong bối cảnh các vương triều Panduranga liên tiếp đối mặt với áp lực quân sự và chính trị từ Đại Việt trong các thế kỷ XVII-XIX. Các cuộc chiến tranh cuối cùng giữa Champa và Đại Việt (sự kiện 1692, 1720, và đặc biệt biến cố 1832-1835 thời Minh Mạng) đã khiến phần lớn cộng đồng Cham theo Islam di cư sang Campuchia, Kelantan và Terengganu (Malaysia) nhằm tránh sự đàn áp và tái cấu trúc xã hội của triều đình Huế. Nhiều nhóm Cham Hồi giáo sau này hình thành cộng đồng Champa diaspora tại Châu Đốc, Phnom Penh, Kampong Cham, Battambang, Kelantan và Terengganu,...những nơi ngày nay vẫn bảo tồn bản sắc Islam Cham rất mạnh.
Sự di cư này không chỉ mang tính chất tị nạn chiến tranh mà còn thể hiện sự tiếp nối truyền thống biển và mạng lưới giao thương của Cham trong khu vực. Qua lời kể của các cộng đồng Cham tại Kelantan, nhiều dòng họ Cham hiện nay tại Malaysia và Campuchia còn lưu giữ gia phả ghi rõ tổ tiên họ từng sống tại Panduranga cho đến khi xảy ra các cuộc chiến với Đại Việt.
Triều Po Klong Mah Nai đã tồn tại trong một giai đoạn biến động sâu sắc, khi Champa chuyển từ một xã hội bị phân hóa bởi hai hệ tư tưởng lớn sang thời kỳ Islam hóa mạnh mẽ, kéo theo những biến chuyển xã hội, tôn giáo và di cư có ảnh hưởng lâu dài đến cộng đồng Cham trong nước và hải ngoại.
Links: Liên kết liên quan
1. Petition Requesting the Correction of Historical Information at the Po Klong Mah Nai Heritage Site
2. Kiến nghị hiệu đính thông tin lịch sử tại di tích đền Po Klong Mah Nai
3. Po Klong Mah Nai truyền ngôi cho Po Rome (Nik Mustafa)
4. King Po Klong Mah Nai abdicated in favor of Po Rome (Nik Mustafa) (English)
5. Sở Văn hóa Bình Thuận đưa thông tin sai lệch về Po Klong Mah Nai
6. Bà Nguyễn Thị Thềm không phải hậu duệ của vua Po Klong Mah Nai
7. Putra Podam video: Vua Po Klaong Manai vị vua Islam (Hồi giáo)
8. Putra Podam video: Tháp Champa: Đền thờ Po Klaong Mah Nai
9. Video Đài Bình Thuận (BTV): Lễ phụng tế Po Klong Mah Nai ???
Tài liệu tham khảo
1. Aymonier, Étienne. Notes sur les Chams et leur religion. Paris: 1891.
2. Cabaton, Antoine. Essai sur la langue cam. Paris: 1901.
3. Maspero, G. Le Royaume de Champa. Paris: 1928.
4. Parmentier, Henri. Monuments chams de l’Annam, Tome I. Paris: Publications de l’École Française d’Extrême-Orient (EFEO), 1909.
5. Coedès, George. The Indianized States of Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press, 1968.
6. Moussay, Gabriel. Dictionnaire Cam-Français. Saigon: 1971.
7. Po Dharma. Le Panduranga (Campa) 1802-1835. Paris: École Française d’Extrême-Orient, 1987.
8. Po Dharma. L’histoire du Campa. Paris: 1989. Xem thêm Pierre-Bernard Lafont (ed.), Champa et le Monde Malais. Paris: 1995.
9. Mohd. Zamberi A. Malek. The Malay-Champa Historical Relations. Kuala Lumpur: 1995.
10. Sakkarai dak rai patao (Biên niên sử các vua Panduranga). Bản chép tay lưu hành trong cộng đồng Cham; đối chiếu theo Po Dharma, Chroniques des rois de Panduranga, EFEO Archives.
11. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục. Bản dịch Viện Sử học, Hà Nội.
12. Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam. Quyết định số 43/VH/QĐ ngày 7/1/1993 về công nhận di tích lịch sử và nghệ thuật quốc gia.
