Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận đưa thông tin sai lệch về Po Klong Mah Nai

Author: Putra Podam
In category News
Jun 9, 2023, 4:40 PM

English Version
(Translated from the Vietnamese original)
The Binh Thuan Department of Culture released inaccurate information about Po Klong Mah Nai

Po Klong Mah Nai, hay còn gọi là Po Mah Taha với tước hiệu Hồi giáo là Maha Taha, trị vì Panduranga từ 1622 đến 1627, là một trong những nhân vật trung tâm trong lịch sử Panduranga-Champa thế kỷ XVII. Nhiều nguồn tư liệu nghiên cứu của Pháp xếp ông vào nhóm các quân vương theo Hồi giáo, phản ánh vai trò quan trọng của Islam trong cơ cấu chính trị và xã hội triều đình Panduranga. Sinh tại Panduranga-Champa và qua đời tại Bal Canar (Parik-Panduranga), nay thuộc khu vực Phan Rí-Bình Thuận. Po Mah Taha thuộc sắc tộc Churu và Raglai, và không có quan hệ huyết thống với vương triều Po Klong Halau (1579-1603), dòng vua có ảnh hưởng mạnh từ nửa sau thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII (Aymonier, 1890). Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), ông lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Mão, trị vì sáu năm, với kinh đô đặt tại Bal Canar. Trong các thư tịch Hán Nôm của triều Nguyễn, tên ông được phiên âm thành Bà Khắc-Lượng Như-Lai, là dạng Hán hóa của danh xưng Cham nguyên thủy.

Po Klong Mah Nai (1622-1627) truyền ngôi cho Po Rome (1627-1651). Po Rome là một vị vua Panduranga-Champa tôn sùng Hồi giáo (Islam).

Hình 1. Po Klong Mah Nai (trị vì: 1622-1627), vị vua theo Hồi giáo (Islam) là vị vua rất sùng bái Islam, niên hiệu: Po Mah Taha. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), Ngài lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Thỏ, trị vì 6 năm, đóng đô ở Bal Canar (Panrik - Panduranga). Đền vua Po Klong Mah Nai được xây dựng trên đồi cát gần Palei Pabah Rabaong (thôn Mai Lãnh, xã Phan Thanh) tiếp giáp thôn Lương Bình, xã Lương Sơn cách ủy ban huyện Bắc Bình khoảng 15km và thành phố Phan Thiết khoảng 50km.  Theo H. Parmentier (Monuments chams de l'Annam, Public. EFEO, Paris, tập 1, 1909, tr. 38), Po Klong Mah Nai là tên gọi của vua Po Mah Taha, tức là cha vợ của vua Po Rome (1627-1651). Đền của Po Klong Mah Nai là nơi tôn kính vua Po Mah Taha và vương phi Bia Som cùng với vợ thứ khác mà người Cham vào thời điểm đó không biết là ai. Ảnh: Putra Podam.


Căn cứ nội dung ghi trên bản Bia trước cổng đền và chương trình văn hóa dân tộc của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Thuận (đính kèm) có nêu một số thông tin bị sai lệch về lịch sử Champa, cụ thể sai lịch sử của vua Po Klong Mah Nai.

1. Nội dung

Thông tin sai lệch ghi trên bản Bia trước cổng đền và Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Bình Thuận nêu, chúng tôi quan tâm ba nội dung chính tại vị trí thời gian như sau:

Nội dung 1: Phút 0:30, Po Klong Mah Nai là vị vua cuối cùng của vương quốc Champa.

Nội dung 2: Phút 0:36, Po Klong Mah Nai lên ngôi đầu thế kỷ 17 đến năm 1627, thì nhường ngôi lại cho con rể là Po Klong Khul”.

Nội dung 3: Phút 2:09, “đền phía bắc là thờ hoàng hậu người Cham Po Bia Som, và đền phía Nam thờ thứ hậu người Việt.

Hình 2. Bia dựng trước cổng đền Vua Po Klong Mah Nai (1622-1627). Ảnh: Putra Podam.

- Phản biện về: Po Klong Mah Nai là vua cuối cùng của Champa

- Phản biện về: Po Klong Mah Nai truyền ngôi cho Po Klong Khul

- Phản biện về: Po Klong Mah Nai cưới Thứ phi người Việt (Nguyễn Thị Ngọc Thương)

Xem Video Đài Bình Thuận (BTV): Lễ phụng tế Po Klong Mah Nai ???

---> Kiểm tra nội dung ghi trên bản Bia dựng trong đền Po Klong Mah Nai (Maha Taha).


2. Phản biện

Nội dung 1: “Po Klong Mah Nai là vị vua cuối cùng của vương quốc Champa”. [Trên bản Bia và Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Bình Thuận].

 Video Đài Bình Thuận (BTV): Lễ phụng tế Po Klong Mah Nai ???


Đính chính

Theo Ts.Putra Podam, đây là thông tin sai lệch về lịch sử Champa của Sở Văn hóa và Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Thuận (BTV).

Năm 1993, đền Po Klong Mah Nai được công nhận là di tích lịch sử và nghệ thuật quốc gia Việt Nam qua quyết định số 43/VH/QD ngày 7-1-1993. Trên bản bia chú thích trước cổng vào, Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận cũng ghi rằng: “Po Klong Mah Nai là vị vua cuối cùng của vương quốc Champa.

Thông tin trên bia đá ghi rằng Po Klong Mah Nai là “vua cuối cùng của vương quốc Champa” là một sự sai lệch nghiêm trọng về lịch sử. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai Dak Rai Patao), Po Klong Mah Nai, theo tước hiệu Hồi giáo là Maha Taha, trị vì từ năm 1622 đến năm 1627 tại Bal Canar - Panduranga, là vị vua thứ 18 thuộc vương triều thứ tám. Ông là người theo Hồi giáo và giữ tín ngưỡng Islam một cách nghiêm túc. Tư liệu lịch sử cho thấy Po Klong Mah Nai đã nhường ngôi cho Po Rome khi gả con gái là Sucih (Bia Sucih) cho Po Rome, nhằm củng cố sự kế vị của triều đại Panduranga. Các nghiên cứu học thuật của Viện Viễn Đông Pháp đều xác nhận rằng triều đại Panduranga tiếp tục tồn tại nhiều thế hệ sau Po Klong Mah Nai, với các vua như Po Rome, Po Nrop, ... và các vua cuối cùng của Panduranga, trong đó Po Phaok The trị vì 1828-1832 là vị vua cuối cùng thực sự.

Việc ghi Po Klong Mah Nai là “vua cuối cùng” làm sai lệch hoàn toàn dòng thời gian lịch sử Champa, đồng thời tạo ra nhận thức nhầm lẫn cho khách tham quan và cộng đồng người Cham. Sai lệch này còn ảnh hưởng đến giá trị học thuật, vì nó bỏ qua khoảng thời gian gần 200 năm tồn tại của triều đại Panduranga sau Po Klong Mah Nai, trong đó có nhiều sự kiện quan trọng về chính trị, ngoại giao và tôn giáo. Do đó, thông tin này cần được hiệu đính dựa trên biên niên sử Panduranga và các nghiên cứu học thuật đáng tin cậy.

 

Hình 3. Vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha, Maha Taha), trị vì 1622-1627, là vị vua theo Hồi giáo (Islam). Bức tượng gốc khi chưa thay áo hoàng triều Champa. Ảnh: Putra Podam.


Phản biện:

Nội dung 2:Po Klong Mah Nai lên ngôi đầu thế kỷ 17 đến năm 1627, thì nhường ngôi lại cho con rể là Po Klong Khul”. [Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Bình Thuận].

 Video Đài Bình Thuận (BTV): Lễ phụng tế Po Klong Mah Nai ???


Đính chính:

Theo Ts.Putra Podam, đây là thông tin sai lệch về lịch sử Champa của Sở Văn hóa và Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Thuận (BTV).

Theo các nhà nghiên cứu người Pháp cũng như theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao) thì trong danh sách không có vua Po Klong Khul. Trong lịch sử Đại Việt cũng như Champa không có ghi lại vua Po Klong Mah Nai truyền ngôi cho vua Po Klong Khul mà chỉ truyền ngôi cho vua Po Rome.

Theo nhiều tư liệu và theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), Po Klong Mah Nai (1622-1627) vị vua theo Islam đã gã con gái Than Cih hay Sucih (tín đồ Islam) và truyền ngôi cho vua Po Rome (1627-1651).

Vua Po Rome (1627-1651), lên ngôi vua đóng đô ở Panduranga, hoàng hậu là Than Cih hay Sucih, Po Rome còn có thứ hậu là bia Than Can (người Rade, có tượng bên trong tháp Po Rome). Po Rome còn có tam hậu là bia Ut (Ut; Mal. Skt.Uttara: Phương Bắc). Bia Ut: nghĩa là công chúa phương Bắc, là Công nữ Ngọc Khoa con gái thứ ba của chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Po Rome chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malay. Biên niên sử Malay ghi lại Khi Po Rome ở Makkah (Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan-Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Islam, chính thức mang tên Thánh Nik Mustafa, tên đầy đủ là: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Vua trị vì tại tiểu vương quốc Kelantan hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome. Po Rome còn có ba phu nhân khác nữa, đó là bia Laku Makam, bia Hatri và bia Sumut. Một số tài liệu về truyền thuyết Po Rome có ghi một câu: Bia Sumut tok Cam di Kut. Dựa vào thành ngữ này, người Chăm cho rằng Bia Sumut là công chúa gốc Islam.

Hình 4. Vua Po Rome (Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome (trị vì: 1627-1651), là một vị vua Panduranga-Champa theo Hồi giáo (Islam), kế thừa từ triều đại Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha) cũng là một vị vua Champa Islam hùng mạnh. Trong thời gian Po Rome ở Makkah, người Malay gọi là Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan (Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Islam là Puteri Siti (Công chúa Siti). Chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malaysia. Biên niên sử Malaysia ghi lại rằng vua trị vì tại tiểu vương quốc Kelantan hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome. Ảnh: Putra Podam. 

Hình 5. Vua Po Rome, niên hiệu: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Dòng dõi vương triều theo Islam tại Serembi Makkah, thuộc tiểu vương quốc Kelatan-Malaysia. Ảnh: Putra Podam.

Hình 6. Po Rome (1627-1651) Po Rome được thần dân Cham kính trọng và thờ phượng tùy theo tín đồ Ahier (Hindu thờ Allah) hay tín đồ Awal (Islam - Hồi giáo). Nếu thờ theo Yang thì Ngài có tên là Yang Po Rome (thần Po Rome). Nếu thờ theo Cei thì Ngài có tên là Cei Asit. Nếu thờ theo Atuw (Hồi Giáo) thì Ngài có tên là Cahya. Nếu thờ theo Yang Baruw (gốc Hồi Giáo) thì Ngài có tên là Po Gahluw. Ảnh: Putra Podam.


Phản biện

Nội dung 3: ...đền phía bắc là thờ hoàng hậu người Cham Po Bia Som, và đền phía Nam thờ thứ hậu người Việt”. [Trên bản Bia và Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Bình Thuận].

 Video Đài Bình Thuận (BTV): Lễ phụng tế Po Klong Mah Nai ???


Đính chính:

Theo Ts.Putra Podam, đây là thông tin sai lệch về lịch sử Champa của Sở Văn hóa và Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Thuận (BTV).

Po Klong Mah Nai (1622-1627) vị vua theo Hồi giáo và rất tôn sùng Islam. Po Klong Mah Nai cũng như nhiều vua chúa khác có nhiều vợ. Hơn nữa Po Klong Mah Nai là vị vua Hồi giáo (Islam) nên theo luật định tôn giáo Ngài có thể lấy nhiều vợ. Po Klong Mah Nai có chính thức một hoàng hậu người Cham là: Bia Som cùng nhiều thứ phi khác (không nhắc đến công chúa người Việt).

Trên bản bia đá ghi rằng phía Bắc thờ hoàng hậu người Cham Bia Som và phía Nam thờ thứ hậu người Việt (Nguyễn Thị Ngọc Thương). Bản bia đá còn ghi rằng: “Đền phía Nam thờ bà thứ phi người Việt cùng và hai tượng Kut con bà” ???

Theo Putra Podam và biên niên sử Panduranga (Sakkarai Dak Rai Patao), Po Klong Mah Nai là một vị vua theo Hồi giáo, có chính thất là Hoàng hậu Bia Som và một số thứ phi người Cham khác. Không có bất kỳ công trình nghiên cứu lịch sử Champa, tư liệu của người Pháp, hay biên niên sử nào ghi nhận việc Po Klong Mah Nai kết hôn với một công chúa người Việt. Thông tin về ‘công chúa Nguyễn Thị Ngọc Thương’ nhiều khả năng xuất phát từ sự nhầm lẫn trong các ghi chép muộn, và không phản ánh thực tế lịch sử.

Sai lệch này ảnh hưởng đến nhận thức về tôn giáo và văn hóa Champa. Po Klong Mah Nai là người theo Hồi giáo, việc ghi nhận ông kết hôn với công chúa Đại Việt sẽ làm sai lệch hiểu biết về tôn giáo của triều đại, mối quan hệ chính trị và xã hội giữa Panduranga và các vương triều lân cận. Việc loại bỏ hoặc hiệu đính thông tin này là cần thiết để bảo vệ tính xác thực lịch sử và giá trị nghiên cứu văn hóa, giáo dục.

Hình 7. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh do Henri Parmentier (1871-1949) vẽ, học giả và kiến trúc sư người Pháp, đồng thời là Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu, kiểm kê và mô tả các di tích Champa. Các hình vẽ tượng và di tích Champa của ông được xuất bản trong tác phẩm nổi tiếng Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam. Ảnh: Henri Parmentier. Edited by Putra Podam.

Hình 8. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh do Henri Parmentier (1871-1949) vẽ, học giả và kiến trúc sư người Pháp, đồng thời là Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu, kiểm kê và mô tả các di tích Champa. Các hình vẽ tượng và di tích Champa của ông được xuất bản trong tác phẩm nổi tiếng Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam. Ảnh: Henri Parmentier. Edited by Putra Podam.

Theo H. Parmentier (Monuments chams de l'Annam, Public. EFEO, Paris, tập 1, 1909, tr. 38), Po Klong Mah Nai là tên gọi của vua Po Mah Taha (1622-1627), tức là cha vợ của vua Po Rome (1627-1651). Đền của Po Klong Mah Nai là nơi tôn kính vua Po Mah Tahavương phi Bia Som cùng với vợ thứ khác mà người Cham vào thời điểm đó không biết là ai.

Trên bản bia chú thích trước cổng vào, Sở Văn hóa Bình Thuận ghi rằng:Đền phía Nam thờ bà thứ phi người Việt cùng và hai tượng Kut con bà. Nội dung này KHÔNG nhắc đến trong nhiều tư liệu Cham cũng như tư liệu Pháp.

Đặt câu hỏi: Sở Văn hóa Bình Thuận tạo dựng câu chuyện thứ phi người Việt (Nguyễn Thị Ngọc Thương) là dựa vào cơ sở nào, tư liệu nào? đề nghị Sở Văn hóa Bình Thuận hãy giải thích để rộng đường dư luận.

Hình 9. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), là vị hoàng hậu theo Hồi giáo (Islam). Bức tượng được chụp trước khi thay áo hoàng triều Champa. Bức tượng tượng này được đặt trong phòng phía Bắc của đền Po Klong Mah Nai. Ảnh: Putra Podam.

Hình 10. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh gốc được Henri Parmentier (1871-1949) thực hiện; ông là học giả, kiến trúc sư người Pháp và Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Dựa trên bức ảnh của Henri Parmentier, Putra Podam đã sử dụng công nghệ AI để phác họa lại hình ảnh Hoàng hậu theo văn hóa Champa thế kỷ XVII. Ảnh: Putra Podam.

Hình 11. Hoàng hậu Bia Som (Po Bia Som), Hoàng hậu chính thức của vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha), theo Hồi giáo (Islam). Bức ảnh gốc được Henri Parmentier (1871-1949) thực hiện; ông là học giả, kiến trúc sư người Pháp và Giám đốc Cơ quan Khảo cổ của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Việt Nam. Dựa trên bức ảnh của Henri Parmentier, Putra Podam đã sử dụng công nghệ AI để phác họa lại hình ảnh Hoàng hậu theo văn hóa Champa thế kỷ XVII. Ảnh: Putra Podam.


Ðền vua Po Klong Mah Nai đã bị cháy vào cuối thế kỷ XIX, sau đó người Cham tiếp tục tu sửa mới. Năm 1964, đền Po Klong Mah Nai được trùng tu bởi quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hình 12. Bảng vinh danh trùng tu được khắc trên đền Po Klong Mah Nai, ghi ngày 18/12/1964 bởi quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh: Putra Podam.

Năm 1993, đền Po Klong Mah Nai được công nhận là di tích lịch sử và nghệ thuật quốc gia Việt Nam qua quyết định số 43/VH/QD ngày 7-1-1993.

Hình 13. Đền Po Klong Mah Nai được xếp hạng là Di tích Lịch sử và Nghệ thuật cấp Quốc gia của Việt Nam theo Quyết định số 43/VH/QĐ ngày 07/01/1993 của Bộ Văn hóa - Thông tin. Ảnh: Putra Podam.

Quần thể kiến trúc đền thờ Po Klong Mah Nai gồm năm gian thờ được bố trí theo trục truyền thống của kiến trúc tôn giáo Champa tại Panduranga. Ba gian chính nằm ở phía sau: gian trung tâm thờ vua Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha); gian bên trái thờ Hoàng hậu người Cham Po Bia Som, cùng với hai pho tượng Patuw Kut được xem là tượng thờ hai vị hoàng tử theo truyền thống dân gian Cham; gian bên phải thờ một Thứ phi người Cham, cũng kèm theo hai tượng Patuw Kut tượng trưng cho hai người con của bà theo tín ngưỡng Cham.

Phía trước là hai gian tiền điện, nơi cộng đồng thực hiện các nghi thức chuẩn bị trước khi vào bimong (chính điện), bao gồm chờ đợi, sắp đặt lễ vật, chỉnh trang trang phục và tiến hành các bước nhập lễ theo đúng quy phạm nghi lễ của người Cham tại Panduranga.

Hệ thống tượng thờ tại đền Po Klong Mah Nai được xem là những tác phẩm điêu khắc quý giá thuộc truyền thống điêu khắc hậu cổ điển Champa. Đặc biệt, tượng vua Po Klong Mah Nai, được tạc từ một khối đá xanh nguyên khối, thể hiện phong cách điêu khắc tinh tế, lối tạo hình vững chắc và trang trọng. Pho tượng mô tả nhà vua trong tư thế ngự triều, đầu đội vương miện mang phong cách biểu tượng quyền lực của các quân vương Panduranga thế kỷ XVII, là minh chứng quan trọng về sự tiếp nối truyền thống nghệ thuật hoàng gia Champa trong giai đoạn muộn.

Hình 14. Việc gán định danh chiếc mão này là mão ngự dụng của vua Po Klong Mah Nai (Maha Taha), vua Panduranga thế kỷ XVII, hiện chưa có cơ sở khoa học vững chắc. So sánh với truyền thống vương phục của các vương triều Hồi giáo đương thời trong khu vực như Champa Hồi giáo (Panduranga), Malay, Aceh và Java thế kỷ XVII cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Các vương triều này thường sử dụng khăn đội đầu (serban), mũ vải hoặc mão nhẹ mang tính biểu trưng, hạn chế trang trí hình khối lớn và chạm khắc dày đặc do quan niệm Hồi giáo về sự tiết chế trong biểu hiện quyền lực. Ngược lại, chiếc mão này có kết cấu nặng, phủ kim loại mạ vàng, hoa văn cuộn dày và gắn nhiều đá màu, phù hợp hơn với truyền thống Khmer - Angkor hậu kỳ. Sự khác biệt này củng cố nhận định rằng hiện vật không thuộc hệ thống vương phục Hồi giáo Champa của vua Po Klong Mah Nai vào đầu thế kỷ XVII. Ảnh: Sưu tầm.

Hình 15. Mặc dù chiếc mão này hiện được giới thiệu là “vương miện của vua Po Klong Mah Nai”, song xét về hình thức, phong cách nghệ thuật, bối cảnh tôn giáo và tư liệu lịch sử, không có cơ sở khoa học để xác định đây là mão ngự dụng của vua Po Klong Mah Nai (Maha Taha), vua Panduranga thế kỷ XVII. Hiện vật nên được hiểu là mão nghi lễ hoặc hiện vật thờ tự mang tính biểu trưng được tạo tác hậu kỳ, phục vụ việc thần thánh hóa hình tượng vua tại đền, không phải hiện vật lịch sử gốc của triều đại. Phản biện này đề nghị hội đồng khoa học điều chỉnh nhãn trưng bày, phân loại hiện vật, đồng thời mở rộng nghiên cứu để làm rõ lịch sử nghi lễ và thần thánh hóa vua Champa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 16. Theo Sở Văn hóa tỉnh Bình Thuận, hiện vật này được giới thiệu là đồ chụp búi tóc bằng vàng của Hoàng hậu Bia Som, có kỹ thuật chế tác tinh xảo và mang đặc trưng của trang sức nghi lễ Champa muộn. Đây có thể là loại trang sức chỉ dành cho phụ nữ thuộc tầng lớp hoàng tộc hoặc quý tộc cao cấp, được sử dụng trong các nghi lễ cung đình và tôn giáo. Tuy nhiên, hiện vật này không đủ cơ sở khoa học để khẳng định là đồ dùng cá nhân của hoàng hậu Bia Som, chính hậu của vua Po Klong Mah Nai. Không tồn tại văn bản lịch sử hay văn bia nào ghi nhận trực tiếp hiện vật gắn với nhân vật này, đồng thời hiện vật cũng thiếu ngữ cảnh khảo cổ rõ ràng để xác định chủ nhân cụ thể. Mặt khác, đồ chụp búi tóc bằng vàng không phải là hiện vật độc bản, mà là loại hình trang sức chung trong hoàng gia Cham, có thể được sử dụng bởi nhiều hoàng hậu, vương phi hoặc phụ nữ quý tộc khác. Từ góc độ nghiên cứu lịch sử và khảo cổ học, việc gán tên một cá nhân lịch sử cho hiện vật khi chưa có chứng cứ xác thực là không phù hợp với nguyên tắc khoa học. Trong trường hợp này, cách tiếp cận đúng đắn và thận trọng nhất là định danh hiện vật theo loại hình, niên đại và bối cảnh văn hóa, thay vì gắn với tên hoàng hậu Bia Som dựa trên suy đoán hoặc truyền miệng. Do đó, có thể kết luận rằng hiện vật là một đồ chụp búi tóc hoàng gia Cham có giá trị cao về mặt lịch sử và nghệ thuật, nhưng việc xác định nó thuộc về hoàng hậu Bia Som hiện vẫn chưa thể kiểm chứng và cần được xem xét. Ảnh: Putra Podam.


Links: Liên kết liên quan

1. Petition Requesting the Correction of Historical Information at the Po Klong Mah Nai Heritage Site
2. Kiến nghị hiệu đính thông tin lịch sử tại di tích đền Po Klong Mah Nai
3. Po Klong Mah Nai truyền ngôi cho Po Rome (Nik Mustafa)

4. King Po Klong Mah Nai abdicated in favor of Po Rome (Nik Mustafa) (English)

5. Sở Văn hóa Bình Thuận đưa thông tin sai lệch về Po Klong Mah Nai
6. Bà Nguyễn Thị Thềm không phải hậu duệ của vua Po Klong Mah Nai
7. Putra Podam video: Vua Po Klaong Manai vị vua Islam (Hồi giáo)
8. Putra Podam video: Tháp Champa: Đền thờ Po Klaong Mah Nai
 9. Video Đài Bình Thuận (BTV): Lễ phụng tế Po Klong Mah Nai ???

Tài liệu tham khảo

1. Aymonier, Étienne. Notes sur les Chams et leur religion. Paris: 1891.

2. Cabaton, Antoine. Essai sur la langue cam. Paris: 1901.

3. Maspero, G. Le Royaume de Champa. Paris: 1928.

4. Parmentier, Henri. Monuments chams de l’Annam, Tome I. Paris: Publications de l’École Française d’Extrême-Orient (EFEO), 1909.

5. Coedès, George. The Indianized States of Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press, 1968.

6. Moussay, Gabriel. Dictionnaire Cam-Français. Saigon: 1971.

7. Po Dharma. Le Panduranga (Campa) 1802-1835. Paris: École Française d’Extrême-Orient, 1987.

8. Po Dharma. L’histoire du Campa. Paris: 1989. Xem thêm Pierre-Bernard Lafont (ed.), Champa et le Monde Malais. Paris: 1995.

9. Mohd. Zamberi A. Malek. The Malay-Champa Historical Relations. Kuala Lumpur: 1995.

10. Sakkarai dak rai patao (Biên niên sử các vua Panduranga). Bản chép tay lưu hành trong cộng đồng Cham; đối chiếu theo Po Dharma, Chroniques des rois de Panduranga, EFEO Archives.

11. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục. Bản dịch Viện Sử học, Hà Nội.

12. Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam. Quyết định số 43/VH/QĐ ngày 7/1/1993 về công nhận di tích lịch sử và nghệ thuật quốc gia.