Name: PhD. Putra Podam (Văn Ngọc Sáng)
Vua Po Rome (Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome (trị vì: 1627-1651), là một vị vua Panduranga-Champa theo Hồi giáo (Islam), kế thừa từ triều đại Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha) cũng là một vị vua Panduranga-Champa Islam hùng mạnh. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao) thì vua Po Rome lên ngôi năm Thỏ và thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Biuh Bal Pangdurang (Thành Bal Pangdurang). Po Rome là con rể của vua Po Klong Mah Nai (nghĩa là Po Klong Mah Nai đã truyền ngôi vua cho Po Rome). Cuộc đời và sự nghiệp của vua Po Rome đã được lịch sử ghi lại có hai dòng khác nhau, một là theo truyền thuyết, theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao) tại tiểu vương quốc Panduranga-Champa và hai theo lịch sử và cây gia phả của Po Rome tại Kalantan (Malaysia).
Truyền thuyết và huyền thoại đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hình tượng Po Rome trong ký ức dân gian Cham, những câu chuyện này không chỉ phản ánh nguồn gốc văn hóa và tôn giáo mà còn làm nổi bật mối liên hệ giữa Champa và các nhóm dân tộc bản địa người Churu.
Tương truyền rằng, sau ngày ăn lá cây liêm (phun kraik), một cô gái tại Panduraga-Champa đã mang thai mặc dù chưa có chồng. Nghe tin này, gia đình đã đuổi cô ra khỏi nhà ở làng Ra-njaoh (làng này tọa lạc trên một khu vực rộng lớn từ ga xe lửa Sông Mao cho đến Banâk Patau Ceng - Đập Đá Hàn- ở Bắc Bình-Bình Thuận). Ngay tại làng Pa-aok mà người Việt gọi là làng Tường Loan, cô sinh ra một bé trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Ja Kathaot.
Một tương truyền khác cho rằng, mẹ Po Rome kết thân với người bạn Churu nhưng Cha mẹ và dòng tộc không chấp thuận nên bà phải rời khỏi làng khi mang thai. Sau khi Po Rome được sinh ra, nhau thai của ngài được chôn tại làng Pa-aok nay làng Tường Loan, là xóm đạo Thiên Chúa Giáo Hòa Thuận. Nơi chôn nhau cắt rốn của Po Rome đã được người Cham ở đây lập miếu thờ và gọi là Yang Thaok Po Rome. Miếu này tọa lạc bên cạnh đường từ Bảo Tàng Cham Bình Thuận (Phan Hiệp) đi Sông Mao và cách Bảo Tàng gần 1km.
Truyền thuyết thứ ba nhấn mạnh rằng mẹ Po Rome là hoàng tộc Cham yêu người Churu, vì không được dòng tộc chấp nhận, bà đến và dừng chân tại cánh đồng làng Cham thuộc palei Pabhan (làng Vụ Bổn, xã Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận), sau này người dân nơi đây cho xây miếu Po Rome Kathaot.
Ba truyền thuyết này cùng chỉ ra rằng Po Rome có nguồn gốc Cham-Churu, kết hợp văn hóa bản địa và hoàng tộc, đồng thời nhấn mạnh yếu tố thần kỳ, thử thách và quyền lực sinh thành, hình mẫu phổ biến trong văn hóa Đông Nam Á.

Hình 1. Đền Yang Thaok Po Rome, tại làng Pa-aok, tỉnh Bình Thuận. Ảnh: Putra Podam.
Các truyền thuyết Po Rome phản ánh cấu trúc văn hóa phổ biến trong Đông Nam Á, nơi nhân vật anh hùng thường xuất thân từ hoàn cảnh kỳ lạ hoặc thử thách thần linh, như mang thai ngoài ý muốn hoặc bị ruồng bỏ, đồng thời được sự bảo hộ của thần linh, sinh ra những đứa trẻ đặc biệt với sức mạnh, trí tuệ hoặc vận mệnh vượt trội. Trong trường hợp Po Rome, các yếu tố này biểu hiện qua khởi đầu khó khăn, bị xã hội ruồng bỏ, sinh ra tại địa điểm linh thiêng làng Pa-aok và trưởng thành tại palei Pabhan, gắn liền với miếu thờ và nghi lễ được cộng đồng duy trì đến ngày nay, cấu trúc huyền thoại này nhấn mạnh tính thần quyền và định mệnh hoàng gia đồng thời tạo ra hình tượng vua vừa gần gũi với dân chúng vừa khác biệt thần thánh.
Các địa danh gắn với Po Rome có ý nghĩa biểu tượng quan trọng, palei Pa-aok làng Tường Loan thuộc Bình Thuận, không chỉ là nơi sinh ra Po Rome mà còn là địa điểm chôn nhau cắt rốn, trở thành trung tâm thờ cúng của cộng đồng Cham, còn palei Pabhan làng Vụ Bổn-Phan Rang, là nơi mẹ Po Rome tạm trú, sau này trở thành nơi xây miếu Po Rome Kathaot. Yang Thaok Po Rome là miếu thờ nơi chôn nhau cắt rốn, được cộng đồng Cham lập nhằm tôn vinh nguồn gốc và thân thế của Po Rome, những địa danh này không chỉ là vị trí vật lý mà còn là biểu tượng văn hóa và tôn giáo, nhấn mạnh mối liên hệ giữa đất đai, tổ tiên và quyền lực hoàng gia trong nhận thức dân gian.
Các dấu vết vật chất liên quan đến Po Rome vẫn tồn tại và được cộng đồng Cham Panduranga duy trì đến ngày nay, tháp Po Rome tại Bal Pangdurang nơi thờ tượng Mukha Linga của Po Rome là do Cham Ahier tiếp biến, vừa tiếp nối tín ngưỡng dân gian bản địa vừa nhấn mạnh thần quyền của vua, miếu Yang Thaok Po Rome vẫn tổ chức các nghi lễ định kỳ gắn với chôn nhau cắt rốn, miếu Po Rome Kathaot thể hiện sự hòa hợp tôn giáo, kết hợp tín ngưỡng bản địa với Hồi giáo từ triều đình, lễ Kate và nghi lễ dân gian kết hợp phản ánh sự sống còn của truyền thống Po Rome trong cộng đồng hiện đại, những dấu vết vật chất và nghi lễ này khẳng định tính liên tục của văn hóa Cham đồng thời minh chứng cho vai trò của Po Rome như hình tượng trung tâm giao thoa văn hóa, tôn giáo và quyền lực hoàng gia.
Po Rome vị vua Hồi giáo Panduranga
Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao), Po Rome là con rể của Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha). Việc Po Rome trở thành vua Hồi giáo cho thấy sự chuyển tiếp tín ngưỡng Islam trong hoàng tộc Panduranga-Champa. Gia phả Kelantan xác nhận Po Rome được gọi là Nik Mustafa bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah, đặt trong hệ thống hoàng tộc Hồi giáo Nik và Wan, vốn có vai trò tôn giáo và chính trị tại Kelantan. Việc ông tiếp nhận Hồi giáo không chỉ là lựa chọn cá nhân mà còn là chiến lược chính trị nhằm củng cố liên minh với các trung tâm Hồi giáo bán đảo Mã Lai, Patani và Singgora, đồng thời mở rộng quyền lực của Champa trong bối cảnh Đông Nam Á thế kỷ XVII đầy biến động. Nghiên cứu của Pierre-Yves Manguin chỉ ra rằng các vua Champa giai đoạn này thường sử dụng tôn giáo như một công cụ hợp pháp hóa quyền lực và củng cố trật tự triều đình.

Hình 2. Po Klong Mah Nai (trị vì: 1622-1627), vị vua theo Hồi giáo (Islam) là vị vua rất sùng bái Islam, niên hiệu: Po Mah Taha. Theo biên niên sử Champa Sakkarai dak rai patao, Ngài lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Thỏ, trị vì 6 năm, đóng đô ở Bal Canar (Panrik - Panduranga). Đền vua Po Klong Mah Nai được xây dựng trên đồi cát gần Palei Pabah Rabaong (thôn Mai Lãnh, xã Phan Thanh) tiếp giáp thôn Lương Bình, xã Lương Sơn cách ủy ban huyện Bắc Bình khoảng 15km và thành phố Phan Thiết khoảng 50km. Theo H. Parmentier (Monuments chams de l'Annam, Public. EFEO, Paris, tập 1, 1909, tr. 38), Po Klong Mah Nai là tên gọi của vua Po Mah Taha, tức là cha vợ của vua Po Rome (1627-1651). Đền của Po Klong Mah Nai là nơi tôn kính vua Po Mah Taha và vương phi Bia Som cùng với vợ thứ khác mà người Cham vào thời điểm đó không biết là ai. Ảnh: Putra Podam.
Po Klong Mah Nai (Po Klong M’hnai, Po Klong Menai, Po Mah Taha), tên Hồi giáo hóa của ông là Po Maha Taha, trị vì Panduranga từ năm (1622-1627). Ngài sinh tại Panduranga, thuộc sắc tộc Churu-Raglai, và qua đời tại Bal Canar, Panduranga (nay là Thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận). Po Klong Mah Nai không có liên hệ thân tộc trực tiếp với triều đại Po Klong Halau nhưng từng đảm nhiệm chức quan cấp cao dưới triều Po Aih Khang, được ban tước hiệu Hồi giáo là Maha Taha, và là một tín đồ Hồi giáo sùng đạo. Trong suốt 6 năm trị vì, đóng đô tại Bal Canar, ông nghiêm túc duy trì Hồi giáo trong triều và đồng thời giữ gìn các nghi lễ truyền thống của tín đồ Cham Ahier, tạo nền tảng tôn giáo và chính trị vững chắc cho người kế vị. Do không có con trai, Po Mah Taha gả con gái Than Chan và truyền ngôi cho một người Churu tài năng đó là Po Rome.
Po Rome tiếp nối đường lối Islam hóa của người tiền nhiệm, củng cố Hồi giáo Panduranga thông qua việc liên kết với các giáo sĩ Hồi giáo từ Kelantan và Patani. Đồng thời, ông duy trì các nghi lễ truyền thống trong cộng đồng Cham Ahier, hình thành mô hình song hành giữa Awal và Ahier, trong đó Hồi giáo và các nghi lễ bản địa cùng tồn tại cùng tôn thờ Đấng Tối cao Allah. Nghiên cứu của Abdul Rahman Tang Abdullah nhấn mạnh rằng Po Rome từng cư trú tại Serembi Makkah (Kelantan), một thực tế không chỉ nâng cao uy tín tôn giáo cá nhân mà còn củng cố mối quan hệ chiến lược với các trung tâm Hồi giáo Đông Nam Á. Nhờ đó, Champa có thể tham gia hiệu quả vào mạng lưới thương mại Hồi giáo xuyên khu vực, đồng thời Islam hóa trở thành một yếu tố trung tâm trong chính sách chính trị, ngoại giao và văn hóa của vương quốc.
Qua sự kế thừa từ Po Mah Taha và các chính sách tôn giáo, ngoại giao của Po Rome, Panduranga-Champa chứng kiến một giai đoạn Islam hóa sâu sắc, trong đó Hồi giáo không chỉ củng cố quyền lực hoàng gia mà còn điều tiết mối quan hệ giữa các tín ngưỡng bản địa và mạng lưới Hồi giáo khu vực, tạo nên mô hình chính trị, tôn giáo đặc thù của Panduranga thời kỳ đầu thế kỷ XVII.

Hình 3. Vua Po Rome (Che Rome, Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome (trị vì: 1627-1651), là một vị vua Panduranga-Champa theo Hồi giáo (Islam), kế thừa từ triều đại Po Klong Mah Nai (Po Mah Taha) cũng là một vị vua Champa Islam hùng mạnh. Trong thời gian Po Rome ở Makkah, người Malay gọi là Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan (Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Islam là Puteri Siti (Công chúa Siti). Chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malaysia. Biên niên sử Malaysia ghi lại rằng vua trị vì tại tiểu vương quốc Kelantan hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome. Ảnh: Putra Podam.

Hình 4. Bản đồ Đại Việt năm 1611, giai đoạn vua Po Rome (Che Rome, Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome (trị vì: 1627-1651). Bản đồ Panduranga trong giai đoạn này gồm Kauthara (khánh Hòa), Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và một phần Lâm Đồng). Nguồn: Đại Việt (lãnh thổ Việt Nam).
Hệ phái tôn giáo Awal-Ahier
Một đặc trưng nổi bật của triều Po Rome là chính sách tôn giáo. Triều đình vừa khuyến khích tín đồ Hồi giáo tuân thủ nghi lễ Islam, vừa bảo tồn các nghi lễ truyền thống của cộng đồng Cham Ahier. Thực tiễn này được thể hiện rõ qua việc đền, tháp Po Rome được xây dựng để thờ tượng Mukha Linga, vừa là biểu tượng thần hóa vua theo tín ngưỡng Ấn giáo, vừa tiếp tục vai trò linh thiêng trong đời sống tinh thần của người Cham. Po Dharma, nhấn mạnh rằng mô hình Awal (Hồi giáo sơ khai) và Ahier (Hồi giáo muộn) cùng chung tôn thờ Po Allah không chỉ là công cụ chính trị nhằm cân bằng các phe phái trong triều đình, mà còn thể hiện tính gắn chặt, đoàn kết trong cộng đồng Panduranga trong giai đoạn phức tạp.
Các nguồn Malaysia và Patani cũng xác nhận rằng Po Rome là một nhân vật kết nối hai dòng tôn giáo, vừa là thành viên hoàng tộc Hồi giáo Nik, vừa là vua Champa, chịu trách nhiệm tổ chức các nghi lễ liên quan bản địa Champa truyền thống, đồng thời duy trì mối quan hệ với các giáo sĩ Hồi giáo tại Patani và Singgora. Sự song hành này thể hiện khả năng dung hòa quyền lực chính trị và tôn giáo, tạo cho Po Rome trở thành biểu tượng quyền lực linh thiêng và hợp pháp trong mắt cả cộng đồng Awal, Ahier và tín đồ Hồi giáo.
Theo sử sách Cham và Malay, vua Po Rome là vị vua Hồi giáo (Islam), là người am hiểu tinh thông Thiên kinh Koran và giáo lý Islam. Người Cham theo Islam thời đó mặc dù tự nhận mình là người Bani (người có đạo, người theo đạo, người theo đạo Islam), nhưng Cham Bani vẫn tiếp tục duy trì chế độ mẫu hệ và mẫu cư, một qui chế tổ chức gia đình và xã hội hoàn toàn đi ngược với phong tục của Hồi giáo (Islam). Vì thần dân Champa nói riêng và người Melayu nói chung chỉ tiếp nhận tôn giáo Islam từ thế giới Ả Rập chứ không tiếp nhận văn hóa Ả Rập. Sau thế kỷ XVII, do tình hình xung đột tôn giáo trong xã hội người Cham ngày càng phức tạp, do đó, triều đại của vua Po Rome đã quyết định hóa giải tôn giáo thành hai tín ngưỡng với thuật ngữ tôn giáo là Awal và Ahier, ý nghĩa như sau:
Awal (ꨀꨥꩊ): Thuật ngữ Awal (gốc từ Ả Rập), có nghĩa là “đầu tiên, trước, sơ khai, sơ kỳ”, để ám chỉ cho những tín đồ Islam (những người Cham Hindu hay Cham Jat đã theo Islam từ nhiều thế kỷ trước) cho tới triều đại vua Po Rome và chấp nhận Po Allah (Aluah) là Thượng Đế, Đấng Tối Cao và Duy Nhất nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố bản địa Champa (Điều này cũng giống ở Malaysia và nhiều quốc gia ở Đông Nam Á).
Trong tự điển E. Aymonier 1906, từ Awal có những nghĩa:
a. nghĩa 1: “đầu tiên, trước”. Ví dụ: meng awal: từ trước, từ đầu.
b. nghĩa 2: “Islam”. Ví dụ: gah Awal: bên Islam.
c. nghĩa 3: “Hồi giáo”. Ví dụ: Cam Awal: Cham Hồi giáo.
Do yếu tố lịch sử tại Panduranga-Champa, agama Awal (Hồi giáo sơ kỳ) không tiếp tục bám chặt vào Thiên kinh Koran để loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng thần linh hay mê tín dị đoan, ... không giống các quốc gia Hồi giáo tại Đông Nam Á, họ tiếp tục loại bỏ những yếu tố liên quan thần linh, hoàn thiện dần theo Thiên kinh Koran để trở thành Islam hiện đại. Ngược lại, Awal tại Panduranga không thay đổi theo xu hướng hiện đại mà vẫn giữ nguyên yếu tố tiếp nhận từ ban đầu, Awal của người Cham ngày nay có thể được liệt kê là một hệ phái Islam cùng tôn thờ Allah như 73 nhánh, chi nhánh của Islam trên thế giới gồm: Islam Sunni của Ả Rập, Islam Shia của Iran, Islam Ahmadi (Ahmadiyya) của Pakistan, Islam Kharijite của Oman, Islam Sufi của Libya, Sudan, Islam Wahabi, …và Islam Awal tại Panduranga.
Islam Awal tại Panduranga được chia thành hai tầng lớp:
Tầng lớp thứ nhất: là Giáo sĩ (Acar): trực tiếp thờ phượng Allah, Đấng Tối cao, Duy nhất và phục tùng Muhammad là Thiên sứ cuối cùng. Nhiệm vụ của giáo sĩ (Acar) là trau dồi chương kinh Koran, kiêng cử, hành lễ trong tháng Ramadan (Ramawan), Eid al-Adha (Waha), … và thực hiện các nghi lễ liên quan đến vòng đời của người Cham theo Bani (Cham theo đạo).
Tầng lớp thứ hai: là Thường dân (Gahéh): chỉ phục vụ và phục tùng cho giáo sĩ (Acar) và gián tiếp thờ phượng Allah. Nhưng lớp tín đồ Thường dân (tầng lớp thứ hai) nếu trang bị đầy đủ kiến thức và Thiên kinh Koran thì cũng có thể trở thành giáo sĩ (Acar) để trực tiếp thờ phượng Allah.
Do vậy, khi bàn đến tôn giáo thuộc hệ phái Awal (Hồi giáo Awal hay Hồi giáo Panduranga) thì chúng ta chỉ đề cập đến tầng lớp Giáo sĩ (Acar) và hệ thống hành lễ của Acar chứ không đề cập đến tín đồ thông thường (Gahéh).
Ahier (ꨀꨨꨳꨯꨮꩉ): Thuật ngữ Ahier-Akhir (gốc từ Ả Rập) có nghĩa là “muộn, sau” để ám chỉ cho người Cham đã từng theo Hindu thờ tam vị thần Trimurti (Brahma, Vishnu, Shiva) đã rời bỏ Hindu vì tình hình tôn giáo và địa chính trị tại Champa và Đông Nam Á, tiếp tục chấp nhận thờ Po Allah từ triều đại vua Po Rome. Po Allah xuất hiện trong cộng đồng Cham Ahier là Đấng Thượng đế Tối cao, tuy nhiên Cham Ahier còn nghĩa vụ chăm sóc đền tháp và duy trì văn hóa bản địa tại Panduranga. Theo Po Dharma, Po Aluah xuất hiện trong cộng đồng Cham Ahier không phải là Đấng Thượng Ðế Duy nhất mà là Ðấng Thượng Đế Tối cao đứng đầu danh sách các thần linh, vua chúa ở Panduranga-Champa.
Do vậy, thuật ngữ Awal không làm thay đổi giá trị thực thể nội tại của Hồi giáo (Islam), mà từ Awal chỉ khẳng định thêm rằng người Cham đã theo Islam và tôn thờ Allah từ trước (nghĩa là người Cham theo Islam từ trước triều đại Po Rome). Trong khi thuật ngữ Ahier, có thay đổi giá trị nội tại của người Cham theo Hindu, triều đại vua Po Rome đã đưa Cham Ahier thờ Po Allah. Nghĩa là trong triều đại vua Po Rome, Hồi giáo đã phát triển cực thịnh, trước tình hình phức tạp, Hoàng gia Panduranga đã truyền đạo Islam cho người Cham Hindu trở thành Cham Ahier (thờ Allah) và mong sau này người Cham Ahier thay đổi nhận thức cùng thờ phượng Đấng Allah để cùng Cham Awal (Cham Islam) giải quyết mâu thuẫn, xung đột tôn giáo tại Panduranga xưa.
Rõ ràng, việc thay đổi tín ngưỡng của tín đồ Cham Hindu thành tín đồ Cham Ahier (Cham Hindu thờ Allah) là mong muốn của tín đồ Cham Ahier sẽ dần dần cải đạo sang tín đồ thờ Allah trong triều đại vua Po Rome thuộc vương triều Po Mah Taha.
Điều cần biết: triều đại của vua Po Rome (chứ không phải do vua Po Rome, nghĩa là không bằng chứng nào cho thấy vua Po Rome tạo ra hai hệ phái Awal và Ahier), và việc tạo ra hệ phái Awal (hình thái Islam Champa hay hệ phái Hồi giáo Awal) với hai tầng lớp, đó là, tầng lớp giáo sĩ (Acar) trực tiếp thờ phượng duy nhất Thượng đế Allah, và tầng lớp tín đồ Awal dân thường (Gahéh) để phục vụ giáo sĩ (Acar) và gián tiếp thờ phượng Allah.

Hình 5. Các hệ phái, các nhánh của tín đồ Islam dưới lớp vỏ bọc của tôn giáo Islam. Ảnh: Nguồn Islam.

Hình 6. Awal (agama Awal): Hồi giáo sơ kỳ, Hồi giáo sơ khai, Hồi giáo Awal hay Hồi giáo Champa. Awal nằm trong 73 nhánh, chi nhánh Islam trên thế giới. Ảnh: Nguồn Islam.
Hai nghi thức an táng Islam và Ahier
Cuộc đời và sự nghiệp của Po Rome là một câu chuyện vừa bi, vừa tráng cũng vừa hùng. Tuy nhiên, dù như thế nào thì vua Po Rome là một vị vua hết lòng vì dân vì nước. Đặc biệt là vị vua được thần dân Panduranga-Champa tôn kính sau khi tử trận. Nhưng cái chết của vua Po Rome, nhiều tài liệu ghi chép chưa được hợp lý. Theo truyền miệng, vua Po Rome bị bắt trong trận chiến, ngài bị nhốt vào rọ, bỏ đói bỏ khát trên đường đưa về Huế và ngài đã tự tử. Theo Dohamide-Dorohiem, E. Aymonier, … Po Rome thua trận và bị bắt nhốt trong cũi sắt.
Nghi thức đầu tiên, sau khi Po Rome từ trần, hoàng gia Panduranga-Champa đã tổ chức nghi lễ cho Po Rome trong thánh đường (Magik/Masjid) theo nghi thức Hồi giáo của hoàng gia Panduranga-Champa.
Sau đó, Po Rome cũng được hoàn thành một nghi thức khác là hỏa táng theo tập tục bản địa dành cho vị vua theo tín đồ Ahier (Hindu thờ Allah) sùng bái và thờ phượng. Đồng thời tín đồ Cham Ahier cũng khắc tượng vua Po Rome dưới hình thể Mukha Linga (thần Shiva) đưa vào thờ bên trong tháp, thay vì tháp này trước đó xây để thờ thần Shiva của Ấn giáo.
Theo G. Moussay và Po Dharma, khẳng định tờ báo viết bằng chữ Bồ Đào Nha của nhà truyền giáo gốc người Bồ Đào Nha đến Việt Nam viết, vua Po Rome bị bắt đưa ra Phú Xuân. Điều đặt ra, chắc chắn triều đình Huế sẽ tử hình thì còn đâu thi hài vua Po Rome đưa vào thánh đường (Magik) làm lễ theo nghi thức Hồi giáo hay hỏa táng theo tập tục Ahier. Có chăng thần dân Champa chỉ thực hiện các thủ tục theo nghi thức cho ngài mà không có thi hài.
Po Rome được thần dân Cham kính trọng và thờ phượng tùy theo tín đồ Ahier (Balamon thờ Allah) hay tín đồ Awal (Islam). Nếu thờ theo Yang thì Ngài có tên là Yang Po Rome (thần Po Rome). Nếu thờ theo Cei thì Ngài có tên là Cei Asit. Nếu thờ theo Atuw (Hồi Giáo) thì Ngài có tên là Cahya. Nếu thờ theo Yang Baruw (gốc Hồi Giáo) thì Ngài có tên là Po Gahluw.
Từ những lý giải ở trên cho thấy, vị vua Po Rome mong muốn Champa được bình yên thì mọi tín đồ Cham Ahier (Hồi giáo mới) phải thờ phượng Allah, không phân biệt tôn giáo, một lòng đoàn kết cùng người Cham Awal (Hồi giáo), tất cả thần dân đều thờ phượng Allah thì Champa sẽ hùng mạnh và hưng thịnh.
Theo truyền thuyết Cham, thực hiện nghi thức hỏa táng cho Po Rome, Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih) không chịu thực hiện các nghi thức hỏa táng vì Hoàng hậu là tín đồ Islam (Hoàng hậu chỉ chấp nhận thổ táng chứ không chịu hỏa táng), sau này, tín đồ Cham Ahier xây một đền nhỏ phía sau tháp Po Rome để thờ phượng bà. Ngược lại Thứ hậu Than Chan (H'bia Than Can) chịu thực hiện nghi thức hỏa táng theo chồng nên Cham Ahier đưa tượng Thứ hậu Bia Than Can vào bên trong tháp cạnh vua Po Rome.
Lưu ý: "Vì không có thi hài của vua Po Rome, nên hoàng gia Champa chỉ thực hiện các nghi thức cho vua Po Rome trong Thánh đường (Magik) theo nghi thức Hồi giáo (Islam). Sau đó, tín đồ Cham Ahier cũng thực hiện một số thủ tục theo nghi thức hỏa táng cho vua Po Rome nhưng không có thi hài của Ngài. Do đó, việc Thứ hậu Bia Than Chan (H'bia Than Can) lên giàn hỏa cũng chỉ là thực hiện theo một nghi thức chứ không hỏa táng bà Thứ hậu Bia Than Chan. Sau này, Thứ hậu Bia Than Chan về sống trên cao nguyên và qua đời vào năm 1654, bà mất vào ba năm sau khi vua Po Rome mất năm 1651".
Hoàng hậu Sucih: biểu tượng của tín đồ Islam
Bia Sucih được xem là hiện thân của Hồi giáo trong triều đại Po Rome. Theo biên niên sử Panduranga (Sakkarai dak rai patao) và gia phả Kelantan, khi cộng đồng tín đồ Ahier thực hiện các nghi thức hỏa táng cho Po Rome, thì Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih) không chịu hình thức hỏa táng vì bà tín đồ Islam (chỉ chấp nhận thổ táng phù hợp với giáo luật Islam) nên cộng đồng Cham Ahier sau này xây một đền nhỏ phía sau tháp Po Rome để thờ phượng Hoàng hậu Sucih.
Abdul Rahman Tang Abdullah, nhấn mạnh rằng việc thực hành nghi lễ Hồi giáo này không chỉ là quyền lựa chọn cá nhân mà còn là chiến lược củng cố quyền lực Hồi giáo trong triều đình, đồng thời thể hiện tính hợp pháp của hoàng tộc trong cộng đồng tín đồ Hồi giáo Đông Nam Á. Hoàng hậu Bia Sucih còn được ghi nhận tham gia các hoạt động ngoại giao tôn giáo, làm cầu nối với giáo sĩ từ Patani, Kelantan và Singgora, qua đó mở rộng ảnh hưởng của Panduranga-Champa trong mạng lưới Hồi giáo khu vực.

Hình 7. Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih), theo bản gốc của mẫu tượng lần đầu thì trên ngực bà không khắc dòng chữ Thrah (Srah). Hình chụp của Henri Parmentier (1871-1949) trong cuốn sách mang tựa “Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam” (Kiểm kê - mô tả các di tích Champa ở An Nam). Mẫu tượng này bị mất lần đầu được tìm thấy, sau đó mất lần hai năm 1993. Ảnh: Henri Parmentier.

Hình 8. Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih), theo bản gốc của mẫu tượng lần đầu thì trên ngực bà không khắc dòng chữ Thrah (Srah). Theo hình vẽ của Henri Parmentier (1871-1949) trong cuốn sách mang tựa “Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam” (Kiểm kê - mô tả các di tích Champa ở An Nam). Mẫu tượng này bị mất lần đầu được tìm thấy, sau đó mất lần hai năm 1993. Ảnh: Henri Parmentier.
Sau khi mẫu tượng gốc của Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih) bị mất vào năm 1993, thì tín đồ Cham Ahier tiếp tục đúc lại tượng mới cho Bia Sucih và khắc lên ngực Bà với dòng chữ Thrah (Srah) mà bản dập còn lưu trữ tại Pháp, với nội dung: “Đây là cốt truyện của Bia Sucih, nhân vật đáng kính trong vương quốc. Vì không lên giàn hỏa theo chồng nên khắc lên ngực Bia Sucih”.
Dòng chữ Thrah (Srah) được khắc trên ngực Bia Sucih (Hoàng hậu Sucih) như dưới đây:
ꨗꨫ ꨚꨗꨶꨮꩄ ꨝꨳꨩ ꨧꨭꨌꨪꩍ
ꨣꨩꨕꨮꩍ ꨧꨯꨱꩃ ꨛꨯꨮ ꨚꨤꨬ
ꨘꩆ ꨅꩍ ꨙꨪꩀ
ꨀꨚꨶꨬ ꨧꨯꨱꩃ ꨚꨧꩃ
ꨓꨕꨩ ꨝꨳꨩ ꨧꨭꨌꨪꩍ
Dòng chữ Thrah (Srah) được dịch sang Rumi Campa 2000 (Putra Podam):
"Ni panuec Bia Sucih
Radeh saong Po palei
Nan oh ndik
Apuei saong pasang
Tada Bia Sucih ".
Điều này chứng minh rằng bức tượng Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih) ở phía sau tháp Po Rome là Bia Sucih. Từ nhận định trên, khẳng định Bia Sucih không chấp nhận hỏa táng (bởi Bia Sucih không phải tín đồ Hindu hay Ahier mà Bia Sucih là tín đồ Islam (con gái vua Islam Po Mah Taha) nên bà chỉ chấp nhận nghi lễ thổ táng theo Hồi giáo (Islam).

Hình 9. Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih), mẫu tượng này được khắc lại lần thứ hai, sau khi mẫu tượng gốc bị mất vào năm 1993. Trên bức tượng mới này, tín đồ Cham Ahier đã khắc lên ngực Hoàng hậu Sucih với dòng chữ Thrah (Srah). Mẫu tượng lần thứ hai cũng bị mất vào năm 2008. Ảnh: EFEO Pháp.

Hình 10. Hoàng hậu Sucih (Bia Sucih), bức tượng được khắc lại lần thứ ba, bức tượng này hiện tại trên đền, tháp Po Rome. Ảnh: Putra Podam.

Hình 11. Miếu Bia Sucih, phía sau tháp vua Po Rome. Ảnh: Putra Podam.
Thứ hậu Than Chan: sự hòa hợp tín ngưỡng và huyền thoại hỏa táng
Thứ hậu Than Chan (H'bia Than Can) tuân theo nghi lễ hỏa táng theo Hindu bản địa tại Panduranga-Champa, cộng đồng Cham Ahier đưa tượng bà vào tháp bên cạnh vua Po Rome, phản ánh việc tiếp tục truyền thống thần hóa hoàng gia theo tín ngưỡng Champa. Po Dharma mô tả là minh chứng cho khả năng hóa giải tôn giáo của triều đình Champa, nơi Islam và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại trong nghi lễ, văn hóa và chính trị. Các nguồn tư liệu Champa nhấn mạnh rằng H'bia Than Can, bằng việc tham gia nghi lễ hỏa táng, củng cố quyền lực hoàng gia và thần quyền hóa vua, đồng thời trở thành biểu tượng của sự nối tiếp truyền thống văn hóa bản địa trong triều đại Po Rome. Huyền thoại về hỏa táng cũng phản ánh cách cộng đồng Cham Ahier bản địa duy trì ký ức văn hóa thông qua kiến trúc, điêu khắc và nghi lễ thờ phụng.

Hình 12. Thứ hậu Than Chan (H'bia Than Can), mẫu tượng gốc bên trong tháp, bên cạnh thần Po Rome. Ảnh: EFEO Pháp.

Hình 13. Thứ hậu Than Chan (H'bia Than Can), mẫu tượng gốc lần đầu đã bị mất cắp. Ảnh: EFEO Pháp.

Hình 14. Thứ hậu Than Chan (H'bia Than Can), mẫu tượng phục dựng lại. Ảnh: Putra Podam.

Hình 15. Thứ hậu Than Chan (H'bia Than Can), bản mẫu lần hai, hiện tại bên trong tháp, bên cạnh vua Po Rome. Ảnh: Putra Podam.

Hình 16. Công chúa H'bia Hadrah Hajan (Hadrah Hajan Kapak), sinh năm (1630-1654), thuộc sắc tộc Rhade. H'bia Hadrah Hajan trở thành thứ hậu Bia Than Chan (H'bia Than Can hay Bia Than Can: nghĩa là Hoàng hậu Than Can), là con gái của một thủ lĩnh (tộc trưởng) người Rhade (Degar, Ede). Trong tiếng Rhade, H'Drah Hajan Kpă có nghĩa “Công chúa Hạt Mưa”. Tương truyền nhan sắc của Công chúa H'bia Hadrah Hajan đẹp trong trẻo như hạt mưa xa, như những tảng băng thanh khiết, đài các,…Bia Than Chan trở thành Thứ hậu (1645-1651). Một số truyền thuyết Rhade cho rằng Bia Than Chan không chết ngay tại hỏa táng, mà bà được giữ lại, sau này sống trên cao nguyên và qua đời năm 1654. Ảnh: Putra Podam.
|
Nhân vật |
Năm sinh |
Trị vì |
Năm mất |
|---|---|---|---|
|
Po Rome |
1595 |
1627-1651 |
1651 |
|
Bia Than Can |
1630 |
- |
1654 |
Hình 17. Po Rome sinh năm 1595, trị vì (1627-1651), năm mất 1651. Bia Than Chan (H'bia Than Can) sinh năm (1630-1654), trở thành Thứ hậu (1645-1651). Một số truyền thuyết Rhade cho rằng Bia Than Chan không chết ngay tại hỏa táng, mà bà được giữ lại, sau này sống trên cao nguyên và qua đời năm 1654.
8. Kết hôn chính trị
Ngoài hai Hoàng hậu chính là Bia Sucih (Bia Than Cih) và H'bia Than Can, phản ánh hai hướng tôn giáo đối lập trong triều đình Panduranga-Champa, Po Rome còn kết hôn chính trị với một số công chúa khác.
Trong thời gian Po Rome ở Makkah, người Malay gọi là Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan (Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Kelantan Puteri Siti (Công chúa Siti). Từ đó, Po Rome chính thức mang tên Thánh Nik Mustafa với tên đầy đủ là: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malaysia. Biên niên sử Malaysia ghi lại rằng vua trị vì tại tiểu vương quốc Kelantan hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome.
Công nữ Ngọc Khoa, tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ngọc Khoa là em ruột cùng mẹ với công nữ Ngọc Vạn và là con gái thứ ba của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Thần dân Champa gọi Bia Ut (Ut; Mal. Skt.Uttara: Phương Bắc). Bia Ut: nghĩa là công chúa phương Bắc, hay công chúa nước Đại Việt. Theo Nguyễn Phước tộc Thế phả, Ngọc Khoa được gả cho vua Po Rome vào năm Tân Mùi (1631). Nhờ cuộc hôn phối này mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
Ngoài ra, Po Rome còn hôn phối với một số công chúa khác như: H’bia Laku Makam (Hoàng hậu Laku Makam), H’bia Hatri (Hoàng hậu Hatri), H’bia Sumut (Hoàng hậu Sumut): Một số tài liệu về truyền thuyết Po Rome có ghi một câu: H’bia Sumut tok Cam di Kut. Dựa vào thành ngữ này, người Cham cho rằng H’bia Sumut là công chúa gốc Hồi Giáo (Islam).

Hình 18. Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut: tiếng Cham). Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ngọc Khoa hay Nguyễn Phúc Ngọc Khoa, là em ruột cùng mẹ với công nữ Ngọc Vạn và là con gái thứ ba của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Thần dân Champa gọi Bia Ut (Ut; Mal. Skt.Uttara: Phương Bắc). Bia Ut: nghĩa là công nữ phương Bắc, hay công nữ phía Đại Việt. Theo Nguyễn Phước tộc Thế phả, Ngọc Khoa được gả cho vua Po Rome vào năm Tân Mùi (1631). Cuộc hôn phối này tạo tình giao hảo giữa hai nước Champa và Đại Việt được tốt đẹp, để chúa Nguyễn dồn lực đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam chiếm Panduranga. Ảnh: Putra Podam.

Hình 19. Công chúa Siti, trong thời gian Po Rome ở Makkah, người Malay gọi là Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan (Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Kelantan Puteri Siti. Từ đó, Po Rome chính thức mang tên Thánh Nik Mustafa, tên đầy đủ là: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malaysia. Ảnh: Website Kelantan.
Ngày 2/7/2010, đoàn khảo cổ thuộc Trung tâm Phát triển bền vững Nam Bộ đã tiến hành khai quật. Trong quá trình khai quật, đoàn đã phát hiện nhiều hiện vật quý giá mang tính lịch sử và có giá trị nghệ thuật cao như: cái hũ gốm sành trong phế tích Tháp lửa, nhiều phiến đá có dấu tích đẽo gọt hoa văn, …Đặc biệt, đoàn đã khai quật phát hiện một ngôi mộ bên dưới có bộ hài cốt người trong khu vực Tháp Po Rome. Theo nhận định ban đầu, đây là khu mộ “Gahul” hay "Makam" của người Hồi giáo, bởi một số tài liệu về truyền thuyết Po Rome có ghi một câu: "Bia Sumut tok Cam di Kut". Dựa vào thành ngữ này, người Cham cho rằng Bia Sumut là công chúa gốc Hồi Giáo (Islam).

Hình 20. Khu vực tháp Po Rome, có một ngôi mộ “Kabur” hay "Makam" của người Hồi giáo (Islam). Theo nhận định đây là khu mộ của hoàng hậu Bia Sumut có nguồn gốc Hồi Giáo, bởi một số tài liệu về Po Rome có ghi một câu: "Bia Sumut tok Cam di Kut". Dựa vào thành ngữ này, người Cham cho rằng Bia Sumut là công chúa gốc Hồi Giáo (Islam). Ảnh: Putra Podam.
Khu mộ Hồi giáo (Islam) được phát hiện bên cạnh đền tháp có quan hệ như thế nào với vị vua Po Rome (Nik Mustafa), cho đến nay vẫn là một câu hỏi lớn chưa có lời kết luận cuối cùng. Có chăng đây là khu mộ của hoàng hậu Bia Sumut có nguồn gốc Hồi Giáo. Mặc dù vậy, đây vẫn là một câu hỏi lớn dành cho các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm và tiếp tục nghiên cứu hầu đưa ra câu trả lời xác thực.
Sai lầm nhận thức về chính sách hòa giải tôn giáo của Po Rome
Trong lịch sử nghiên cứu về vua Po Rome, một số công trình trước đây đã nhận định ông là người dung hợp tôn giáo và chính trị, cho rằng nhà vua hòa trộn các hệ thống tín ngưỡng Cham bản địa với Hồi giáo để tạo ra một mô hình đồng hóa tôn giáo. Tuy nhiên, nhận định này thiếu cơ sở thực tiễn và phương pháp học thuật, phản ánh hạn chế trong việc hiểu biết văn hóa, tôn giáo và cấu trúc nghi lễ của người Cham.
Một nguyên nhân chính của những sai lầm này là việc không phân biệt rõ hai truyền thống Hồi giáo Cham: Agama Awal (Hồi giáo sơ kỳ) và Agama Ahier (Hồi giáo muộn). Agama Awal, Hồi giáo sơ khai còn ảnh hưởng yếu tố bản địa, vẫn giữ nguyên nguyên tắc cơ bản của Hồi giáo: tôn thờ duy nhất Allah, thực hành nghi lễ tại thánh đường (magik), và không bao giờ tham dự nghi lễ trong các đền, tháp thuộc hệ thống Ahier hoặc tín ngưỡng bản địa Cham. Giáo sĩ Awal (Acar) cũng không thực hiện nghi lễ thờ thần Hindu (Ấn giáo) hay các thần linh Champa hóa thân. Việc mời giáo sĩ Acar của hệ phái Agama Awal chỉ nhằm xác nhận Allah chứng giám các nghi lễ Ahier, chứ không mang yếu tố cúng bái thần linh.
Trong khi đó, Agama Ahier không có chức sắc chuyên trách phụng sự Allah. Do đó, trong các nghi lễ liên quan đến Allah, chẳng hạn Rija Nagar, Rija Praong, Rija Malam, Rija Sua, Mbeng Bar Huak, Rao Sang, Kamruai (sang baruw), …tín đồ Ahier thường mời giáo sĩ Awal thực hiện các phần nghi lễ liên quan đến Allah, như đọc surah Al-Fatihah, Ash-Shams và một số Du’a khác. Đây là một cơ chế nghi lễ phụ trợ, mang tính thực dụng tôn giáo và xã hội, không phải sự hòa trộn giáo lý. Nhận định cho rằng Po Rome dung hợp hai tôn giáo, với Agama Awal thực hiện lễ cho Ahier và ngược lại, là sai lầm lớn trong nghiên cứu.
Lễ Rija là một minh chứng điển hình cho sự hiểu nhầm này. Lễ Rija có nguồn gốc từ hoàng gia Malay (lễ Mak Yong), chịu ảnh hưởng văn hóa bản địa, sau đó lan truyền trong cộng đồng Hồi giáo Malay. Lễ Rija mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp mỗi người Cham gắn kết với cội nguồn dân tộc, củng cố các giá trị văn hóa, nhân văn và hoàn thiện bản thân trong đời sống cộng đồng. Sự hiện diện của giáo sĩ Acar Awal trong nghi lễ chỉ nhằm đảm bảo Allah chứng giám các nghi lễ liên quan, không liên quan đến thần linh Champa hay Hindu (Ấn giáo). Sau khi bị Đảng PAS tại Malaysia cấm vào năm 1990, lễ Rija (lễ Mak Yong) hiện chỉ được phục dựng trên sân khấu và được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Sai lầm trong nhận thức về Po Rome xuất phát từ việc dựa vào lời kể truyền miệng thiếu kiểm chứng, không phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng, không phân biệt giữa đức tin và văn hóa. Những nhầm lẫn này sau đó được sao chép trong nhiều công trình nghiên cứu trong nước, tạo thành quan niệm sai lệch kéo dài về vai trò tôn giáo của Po Rome. Khi tiếp cận vấn đề bằng phương pháp lịch sử, tôn giáo học nghiêm ngặt, có thể kết luận rằng Po Rome không phải là nhà dung hợp tôn giáo, mà là người thực hiện chính sách hòa giải tôn giáo và chính trị, tôn trọng ranh giới chức năng của từng truyền thống, đồng thời bảo đảm ổn định xã hội và bản sắc văn hóa Panduranga.
Một vài người Cham thêu dệt cho rằng vua Po Rome là vị giáo chủ tôn giáo của người Cham (Awal-Ahier) trong khi chưa hiểu rõ thuật ngữ Awal, Ahier và tư tưởng của vị vua Po Rome theo Islam, cũng như tình hình mâu thuẫn tôn giáo của Panduranga-Champa thời đó. Do đó khẳng định, những thêu dệt cho rằng vua Po Rome là giáo chủ (chưởng môn) của môn phái Awal-Ahier chỉ là suy nghĩ cá nhân, không đúng sự thật và không cơ sở khoa học lịch sử và cố làm trái ý việc phải thờ phượng Đấng Allah là tinh thần và chủ trương mà vua Po Rome một vị vua Panduranga-Champa anh minh đã truyền lại cho hậu thế.

Hình 21. Giải thích sơ đồ: Po Rome đứng trung tâm như nhà hoạch định chính sách, điều phối mối quan hệ tôn giáo, không hòa trộn giáo lý, nhưng đảm bảo tính hợp pháp tôn giáo trong cộng đồng đa tôn giáo Panduranga. Agama Awal: Giáo sĩ Awal chỉ thực hiện nghi lễ Islam trong thánh đường, không tham dự các nghi lễ Ahier hoặc thờ thần Hindu Ấn giáo. Agama Ahier: Không có chức sắc chuyên trách Allah; các tín đồ Ahier mời Acar Awal chứng giám Allah trong các nghi lễ quan trọng như Rija. Mối quan hệ giữa hai hệ thống là hòa giải nghi lễ, phản ánh thực hành tôn giáo linh hoạt và chính sách quản trị đa tôn giáo của Po Rome, chứ không phải dung hợp giáo lý. Lễ Rija: Sự tham gia của Acar Awal chỉ liên quan đến Allah, không liên quan đến thần linh Champa hay Hindu Ấn giáo, phản ánh đúng chức năng nghi lễ và bản chất hòa giải tôn giáo. Ảnh: Putra Podam.
Sai lầm nhận thức về thuật ngữ "Bani"
Thuật ngữ “Bani” thường bị hiểu nhầm là tên một tôn giáo độc lập trong cộng đồng Cham, trong khi thực tế đây là danh xưng xã hội, tôn giáo chỉ tín đồ theo Allah trong hệ thống Agama Awal. Nhận thức sai lệch này vừa ảnh hưởng đến nghiên cứu lịch sử, tôn giáo, vừa kéo theo những hệ quả pháp lý và xã hội trong đời sống hiện đại. Bài viết sẽ lần lượt phân tích nguồn gốc, ngữ nghĩa và quá trình bản địa hóa của Bani, tiếp đó làm rõ các sai lầm về cách gọi “đạo Bani” và tác động của chúng đối với cộng đồng Cham Awal.
a). Nguồn gốc, ngữ nghĩa "Bani" và quá trình bản địa trong truyền thống Islam Đông Nam Á
Thuật ngữ “Bani - ꨝꨗꨪ ” là một ví dụ điển hình về hiện tượng chuyển nghĩa và thích ứng văn hóa trong tiến trình tiếp biến tôn giáo từ thế giới Ả Rập đến Đông Nam Á. Nguyên thủy, “Bani” bắt nguồn từ tiếng Ả Rập Banī (بني), là hình thức thuộc dạng iḍāfah của từ ibn/banū, với nghĩa gốc là “con cháu”, “hậu duệ” hoặc “những thành viên thuộc một dòng tộc hay cộng đồng”. Trong Koran (Qur’an) và truyền thống Hadith, thuật ngữ này xuất hiện trong các cụm từ như "Banī Isrā’īl", "Banī Hāshim" hay "Banī Quraysh", nhằm xác định huyết thống hoặc tập thể xã hội, không bao giờ được dùng như tên gọi của một tôn giáo độc lập.
Khi Islam lan truyền đến khu vực Malay, Java và Champa từ thế kỷ X, các thuật ngữ Ả Rập, trong đó có “Bani”, đã trải qua sự chuyển nghĩa theo cơ chế ngữ nghĩa khu vực, được dùng để chỉ tín đồ, cộng đồng Muslim bản địa hóa hoặc người mới nhập đạo. Từ điển học cổ điển của Aymonier và Cabaton (1906) giải thích “Bani” là từ Ả Rập mang nghĩa “con cháu” nhưng trong bối cảnh Đông Nam Á lại được hiểu là “Hồi giáo” hay “người theo Islam”. R.P. Durand (1903) cũng nhấn mạnh rằng Bani là cách phiên âm từ “Beni”, nghĩa là “những đứa con”, đồng thời chỉ ra rằng danh xưng này gắn liền với tôn giáo Islam trong các cộng đồng bản địa.
Trong ngữ cảnh Champa, "Bani" gắn liền với quá trình Islam hóa bản địa hóa, hình thành hệ thống Agama Awal từ thế kỷ XVII. Agama Awal là hình thức Islam sơ kỳ bản địa, kết hợp tầng lớp giáo sĩ (Acar) và các nghi lễ dựa trên Koran, đồng thời duy trì sự thờ phụng Allah và tôn kính Nabi Muhammad. Bản chất Islam được bảo toàn qua nghi lễ Khatan, việc duy trì Shahādah, và các thực hành giáo sĩ Acar. Trong hệ thống này, Bani không bao giờ là tên một tôn giáo, mà là danh xưng xã hội, tôn giáo chỉ những cá nhân hoặc cộng đồng Cham thờ Allah. Người Cham không nói “Agama Bani”, và thuật ngữ này chỉ xuất hiện trong các danh xưng như Anak Bani, Cham Bani hay Bani Cham. Nghi lễ “Khatan tama Bani” là nghi lễ nhập đạo Islam, không mang ý nghĩa gia nhập một tôn giáo tên Bani.
Về học thuật, có thể khẳng định rằng "Bani" là thuật ngữ xã hội, tôn giáo, phản ánh tư cách tín đồ và sự liên kết với Allah trong truyền thống Champa Awal. Việc hiểu sai "Bani" như một tôn giáo độc lập dẫn đến nhận thức lệch lạc trong cộng đồng và trong nghiên cứu lịch sử, tôn giáo. Thuật ngữ này minh chứng cho sự tiếp biến văn hóa, quá trình bản địa hóa Islam và cách thức mà Đông Nam Á tiếp nhận các danh xưng Ả Rập, đồng thời thể hiện tính liên tục của truyền thống tôn giáo Cham trong hơn một thiên niên kỷ.
b). Nhận thức sai lệch về "đạo Bani" và hệ quả pháp lý, xã hội tại cộng đồng Cham Awal
Trong vài thập niên gần đây, xuất hiện quan điểm cho rằng cộng đồng "Cham Awal" theo một tôn giáo gọi là “đạo Bani”, và có ý kiến cho rằng Nhà nước Việt Nam cần công nhận “tôn giáo Bani”. Quan điểm này thiếu cơ sở khoa học, lịch sử và pháp lý, đồng thời đi ngược lại hệ thống tôn giáo Agama Awal, vốn là Islam Sơ kỳ hay Islam bản địa từ thế kỷ XVII. Sai lầm này bắt nguồn từ thực tế hành chính kéo dài tại hai tỉnh Bình Thuận và tỉnh Ninh Thuận, khi một số cơ quan công an địa phương tự ý ghi “Bani” trong mục tôn giáo trên Chứng minh Nhân dân, mặc dù Danh mục tôn giáo chính thức của Ban Tôn giáo Chính phủ chỉ ghi “Hồi giáo”. Hành vi này đã khiến một bộ phận dân cư hiểu lầm rằng Nhà nước công nhận một tôn giáo mang tên Bani, từ đó hình thành nhận thức xã hội sai lệch và những yêu sách không dựa trên cơ sở pháp lý hay lịch sử.
Theo Công văn số: 6955/BNV-TGCP ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Bộ Nội vụ, thì Việt Nam có 36 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận. Số thứ tự (6) là tôn giáo Hồi giáo, gồm có 7 tổ chức tôn giáo.

Hình 22. Theo Công văn số: 6955/BNV-TGCP ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Bộ Nội vụ, số thứ tự (6) là tôn giáo Hồi giáo, gồm có 7 tổ chức tôn giáo.
Tham khảo: Danh mục tôn giáo và tổ chức tôn giáo Việt Nam
Sở Công an tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận khi cấp Chứng minh nhân dân không căn cứ vào danh mục tôn giáo của Ban Tôn giáo Chính phủ - Việt Nam, mà cấp Chứng minh nhân dân tùy theo người khai, tự ý ghi tôn giáo: "Bani" nên đã gây hậu quả cho ngày hôm nay.
Xét về học thuật, sự nhầm lẫn này gây hậu quả nghiêm trọng. Trên thế giới không tồn tại bất kỳ tôn giáo nào mang tên Bani, và thuật ngữ này chỉ là danh xưng xã hội, tôn giáo cho cộng đồng Cham Awal thờ Allah trong khuôn khổ Islam bản địa hóa. Việc gọi Bani như một tôn giáo độc lập không chỉ sai lệch về bản chất, mà còn làm ngắt mạch truyền thống lịch sử và thực hành tôn giáo của Champa, đồng thời tạo nguy cơ phân mảnh bản sắc cộng đồng. Từ góc độ pháp lý, mọi yêu cầu công nhận “tôn giáo Bani” đều không có cơ sở, bởi Bani không có giáo lý, kinh sách hay cơ cấu tổ chức riêng. Nhận thức sai lệch này cũng làm khó khăn trong việc hoạch định chính sách tôn giáo và nghiên cứu khoa học, bởi nó dẫn đến việc đánh giá sai bản chất của hệ thống Agama Awal và cộng đồng Cham Awal.
Để bảo vệ tính chính xác của nghiên cứu lịch sử, tôn giáo và điều chỉnh nhận thức cộng đồng, cần khẳng định rằng thuật ngữ Bani chỉ mang tính danh xưng tín đồ Islam, phản ánh tư cách và cộng đồng, chứ không phải tên tôn giáo. Việc nhận thức đúng về Bani sẽ giúp bảo tồn bản sắc tôn giáo Cham Awal, đồng thời duy trì liên kết lịch sử với tiến trình Islam hóa Champa, đảm bảo sự thống nhất trong nghiên cứu, chính sách và giáo dục về cộng đồng Cham Awal.
c). Kết luận học thuật về thuật ngữ "Bani"
Qua nghiên cứu nguồn gốc, ngữ nghĩa và bản địa hóa của thuật ngữ Bani, có thể khẳng định rằng đây không bao giờ là tên một tôn giáo độc lập mà là danh xưng xã hội, tôn giáo, mô tả tư cách tín đồ Islam trong cộng đồng Champa Awal. Sự hiểu sai về “đạo Bani” chủ yếu bắt nguồn từ sai sót hành chính và dẫn đến các nhận thức lệch lạc, nhưng không phản ánh bản chất lịch sử hay tôn giáo của cộng đồng. Việc định vị đúng Bani trong hệ thống Agama Awal giúp bảo tồn tính liên tục của truyền thống Islam bản địa hóa, củng cố nhận thức học thuật, và điều chỉnh chính sách tôn giáo một cách chính xác.

Hình 23. Bani, Muslim và Islam, các nhánh, chi nhánh của tín đồ Islam dưới lớp vỏ bọc của tôn giáo Islam. Ảnh: Nguồn Islam.
Hậu duệ vua Po Rome
Vua Po Rome (Sultan Abdul Hamid Shah Bin Syarif Wan Abu Muzaffar Bin Syarif Wan Abdullah Umdatuddin). Ông cưới nhiều vợ, riêng người vợ công chúa Kelantan có ba người con trai đều theo Hồi giáo (Islam).
Con trai cả của Nik Mustafa (Po Rome) là Sultan Nik Ibrahim Bin Nik Mustafa, mà người Champa thường gọi là Po Nrop (Datu Kelantan 1634-1637; Raja Campa 1637-1684). Đã từng làm tướng soái tại Kelantan, sau này về Champa làm vua kế vị Po Rome. Theo biên niên sử Champa Sakkarai dak rai patao thì Po Nrop là em trai Po Rome lên ngôi năm Thìn và thoái vị năm Tỵ, trị vì một năm, đóng đô ở Bal Canar (Tịnh Mỹ, Parik). Theo Hán Việt thì Po Nrop có tên là Bà Thấm (1651-1653). Năm 1653, Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần hay Nguyễn Thái Tông, tước hiệu Dương Quận Công là vị chúa Nguyễn thứ tư của chính quyền Đàng Trong) đưa quân sang đánh và hạ được thành, Po Nrop thất bại và chạy sang Kampuchia , sau đó quay sang vùng Châu Đốc sau sự kiện vua Nặc Ông Chăn cải đạo sang Islam và bị hoàng thất Khmer giết hại. Po Nrop (Bà Thấm), chính là ông tổ của người Chăm ở Châu Giang, Châu Đốc ngày nay.
Con trai thứ hai của Nik Mustafa (Po Rome) là Nik Badrus- Salam Bin Nik Mustafa, vị hoàng tử thứ hai chính là ông tổ của các đời vua ở Kelantan-Malaysia, ông kết hôn cùng hoàng thất Kelantan, các vị vua ở Kelantan ngày nay là dòng dõi của vị hoàng tử này.
Con trai thứ ba của Nik Mustafa (Po Rome) là Nik Ali Bin Nik Mustafa, ông cưới hoàng thất Pattani (vương quốc Malay ở miền Nam Thái Lan) và giữ chức thống soái quân đội của triều đình Pattani, sau khi Pattani bị người Thái xâm chiếm, gia đình hoàng thất ly tán. Nhưng dòng họ "Nik" vẫn còn ở Pattani. Những người con Champa thật sự đáng tự hào với dòng máu từ Nabi Ibrahim cùng Siti Qaturah. Đó là dòng máu trực hệ từ thiên sứ của chúng ta, thiên sứ Muhammad (S.A.W).

Hình 24. Gia phả dòng tộc vua Po Romé ở Kelantan - Malaysia. Ảnh: Gia phả Kelantan.

Hình 25. Alasilah Raja-raja Kelantan Dari Ahlul Bait. (Gia phả vị vua hoàng gia Kelantan). Ảnh: Gia phả Kelantan.

Hình 26. Gia phả dòng tộc Islam Champa trong hoàng thất tại Kelantan - Malaysia. Ảnh: Gia phả Kelantan.

Hình 27. Salasilah Kesultanan Islam Champa - Gia phả vua Islam tại Champa. Ảnh: Gia phả Kelantan.
Kết luận
Po Rome (Nik Mustafa) không chỉ là một vị vua lịch sử của Panduranga-Champa mà còn là biểu tượng tiêu biểu của khả năng liên kết cộng đồng đa tộc người và hòa hợp các truyền thống tôn giáo khác nhau trong bối cảnh Đông Nam Á thế kỷ XVII. Qua các phân tích đối chiếu học thuật, có thể thấy Po Rome là trung tâm của mạng lưới quyền lực và văn hóa, tôn giáo, vừa kết nối Champa với Kelantan, Patani và Singgora, vừa gắn kết các dân tộc bản địa Tây Nguyên, như Churu, Raglai và Rhade. Khả năng của Po Rome trong việc duy trì sự ổn định chính trị đồng thời liên kết tín ngưỡng thành hai nhánh Awal và Ahier cùng tôn thờ Allah, để đoàn kết liên hiệp tộc người và liên tôn giáo.
Giai đoạn trị vì của Po Rome cũng đại diện cho thời kỳ cuối của Champa, nơi các giá trị văn hóa bản địa được bảo tồn đồng thời thích nghi với các yếu tố Hồi giáo từ mạng lưới Malay hải đảo. Ảnh hưởng của Po Rome còn lan tỏa sâu rộng đến văn hóa Malaysia-Patani hiện đại. Gia phả hoàng tộc Kelantan, các nghi lễ Kate, cầu mưa, và các truyền thuyết dân gian vẫn ghi nhớ ông như một biểu tượng quyền lực, linh thiêng và trung tâm văn hóa. Theo nghiên cứu của Abdul Rahman Tang Abdullah, Po Dharma,... Po Rome đã tạo ra mạng lưới kết nối giữa triều đại Champa với các vương quốc Hồi giáo Malay, từ đó hình thành những truyền thống tôn giáo, phong tục và văn hóa tiếp tục tồn tại trong cộng đồng Malay hiện đại. Đồng thời, qua các địa danh, tháp, miếu và các nghi lễ nông nghiệp tại Tây Nguyên, ông vẫn hiện diện trong ký ức dân gian Churu, Raglai, Rhade và Cham, củng cố mối liên kết văn hóa, lịch sử đa tầng giữa các cộng đồng.
Po Rome là hình tượng lịch sử, văn hóa, tôn giáo đa diện: vừa là vua lịch sử, vừa là biểu tượng của sự hóa giải tôn giáo, bảo tồn văn minh cổ và mở rộng ảnh hưởng văn hóa, chính trị ra khu vực Đông Nam Á. Di sản của ông minh chứng cho khả năng gắn kết cộng đồng đa tộc, duy trì quyền lực hoàng gia, và truyền bá văn hóa, tín ngưỡng, từ đó góp phần làm phong phú di sản lịch sử Champa và ảnh hưởng lâu dài đến văn hóa Malaysia- Patani hiện đại.

Hình 28. Vua Po Rome (Che Rome, Nik Mustafa, Sultan Abdul Hamid Shah, Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah). Po Rome là vị vua Panduranga-Champa. Ảnh: Putra Podam.

Hình 29. Tháp (bimong) vua Po Rome (Mustafa) tại Ninh Thuận. Ảnh Putra Podam.

Hình 30. Tháp (bimong) vua Po Rome (Mustafa) tại Ninh Thuận. Ảnh Putra Podam.

Hình 31. Kiến trúc chóp ngôi tháp chính. Ảnh: Quảng Minh Kháng.

Hình 32. Quang cảnh tháp Po Rome trong ngày Kate tháng 7/2018 Cham lịch. Ảnh: Quảng Minh Kháng.

Hình 33. Vua Po Rome, niên hiệu: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Dòng dõi vương triều theo Islam tại Serembi Makkah, thuộc tiểu vương quốc Kelatan-Malaysia. Ảnh: Putra Podam.
LINKs: Liên kết liên quan
1. Kelantan: http://www.royalark.net/Malaysia/kelant2.htm
2. Một số tên gọi vị vua Po Rome
3. Một số hoàng hậu, thứ hậu của vua Po Rome
4. Awal và lịch sử Islam tại Champa
5. Video tháp Po Romé: http://youtu.be/5Gz-ccSM8rY
6. Nguồn tư liệu chính: Po Dharma, Biên niên sử Panduranga (Les Chroniques du Panduranga). Luân án phó tiến sĩ, đại học Sorbonne, Paris, 1978.